Hôm nay,  

Luật Pháp Phổ Thông – Ls Lê Đình Hồ

11/24/200800:00:00(View: 2417)

Luật Pháp Phổ Thông – LS Lê Đình Hồ

[LS Lê Đình Hồ là tác giả cuốn “Từ Điển Luật Pháp Anh Việt-Việt Anh” dày 1,920 trang được xuất bản năm 2004. Qúy độc giả muốn mua sách, xin vui lòng liên lạc [email protected]]

Hỏi (Bà Trần T.T): Tôi được chồng tôi bảo lãnh sáng Úc tính đến nay gần được 2 năm. Hiện tôi là thường trú nhân của Úc. Chúng tôi có một cháu trai được 8 tháng.
Lúc chồng tôi về Việt Nam kết hôn, ông ta hứa hẹn đủ điều, nhưng nay đến Úc tôi thấy đời sống quá chật vật vì chồng tôi lãnh trợ cấp thương tật cũng đã lâu vì chứng nhức lưng. Tôi có ý định đưa cháu về Việt Nam 6 tháng để có gia đình giúp đỡ. Khi cháu khá lớn thì tôi sẽ trở lại Úc. Nhưng chồng tôi không đồng ý.
Tôi đã cho chồng tôi biết là tôi sẽ xin tòa để đưa con tôi về Việt Nam. Ông ta cho biết là sẽ nhờ luật pháp can thiệp.
Xin LS cho biết là tôi có quyền đem con tôi về Việt Nam sinh sống một thời gian hay không"

*

Trả lời: Trong vụ O’Leary & Oleary [2007] FMCAfam 206, “Người cha là công dân Úc, sinh tại Úc. Ông được 66 tuổi. Ông đã lập gia đình trước đây và con cái đã trưởng thành. Người vợ sinh tại Thái Lan vào tháng 7.1958. Bà công dân Thái Lan nhưng có chiếu khán để thường trú tại Úc” (The father is an Australian citizen, born in Australia. He is aged 66. He has been previously married and has grown up children. The wife was born in Thailand in 7.1958. She is a citizen of Thailand but has a visa for permanent residence in Australia).
“Hai bên đương sự gặp nhau khi người vợ đến viếng nước Úc vào cuối năm 1999. Bà ta có người chị sống tại Úc. Sau khi bà trở về Thái Lan. Người cha đã viếng thăm bà ta hơn một lần tại Thái Lan, và theo người vợ thì, ông ta đã sắp xếp để người chị của ông bảo lãnh người vợ đến Úc vào tháng 2.2001” (The parties met when the wife was visiting Australia in late 1999. She has a sister who lives in Australia. She returned to Thailand. The father visited her more than once in Thailand, and then, according to the wife, he arranged for his sister to sponsor the wife to Australia in February 2001).
“Sự quan hệ của họ khởi đầu vào năm 1999. Người chồng cho biết rằng họ khởi sự sống chung vào tháng 10.1999 và rốt cuộc đã ly thân vào ngày hoặc vào khỏang 20.11.2001. Người chồng khai rằng không lâu sau đó người vợ đã báo cho ông ta rằng bà ta đã có bầu và họ đã đồng ý kết hôn và họ đã kết hôn vào tháng 12. 2001. Rồi họ đã ly thân vào tháng 4.2005” (Their relationship had commenced in 1999. The husband says they commenced cohabitation in 10.1999 and eventually separated on or about 20.11.2001. The husband says that shortly after that the wife informed him that she was pregnant and they agreed to marry and they were married in 12.2001. They then separated in April 2005).
“Thủ tục tranh tụng khởi đầu tại Tòa Án Gia Đình Úc vào ngày 20.5.2005 do người chồng muốn gần gủi đứa con của hai bên đương sự là J, sinh vào tháng 8.2002” (The proceedings commenced in the Family Court of Australia on 20.5.2005 by the husband wanting to have time with the child of the parties who is J, born in August 2002).
“Án lệnh đồng thuận quy định rằng hai bên đương sự phải cùng chịu trách nhiệm về chức năng làm cha mẹ đối với J; rằng J sống với mẹ của bé và cứ mỗi 2 cuối tuần người cha được quyền dành thời gian và trò chuyện với bé từ 5 giờ chiều ngày Thứ Sáu đến 5 giờ chiều ngày Chủ Nhật, một nửa thời gian nghỉ hè của trường, 2 tuần trong dịp Giáng Sinh” (The consent orders provide for the parties to have joint parental responsibility in relation to J; that J live with her mother and the father spend time with and communicate with her every second weekend from 5pm Friday to 5pm Sunday, for half of all school term vacations, two weeks during Christmas).


“Một trong những điều được đưa ra trong án lệnh là án lệnh tạm thời ngăn cấm người mẹ không được đưa J ra khỏi nước Úc cùng với án lệnh đưa tên lên danh sách tại phi cảng để theo dõi” (Amongst the numerous orders that have been made is an interim order restraining the mother from taking J from Australia together with an airport watch list order).
“Người mẹ nộp đơn xin đưa J rời Úc. Bà ta muốn thăm mẹ của bà tại Thái Lan. Mẹ của bà bị bệnh. Mẹ của bà đã 66 tuổi. Không có bằng chứng y khoa về bệnh tình của người mẹ. Người vợ khai là bệnh tim” (The mother’s application is to take J out of Australia. She wishes to visit her mother in Thailand. Her mother is ill. Her mother is aged 66. There is no medical evidence about the mother’s condition. The wife says that it is a heart condition).
Người cha phản đối vì cho rằng: “Có sự nguy hiểm là người mẹ vĩnh viễn không trở lại Úc hoặc lưu lại thêm một thời gian, hoặc về Úc mà không đưa J về với bà ta” (There is a risk of the mother not returning to Australia either permanently or even for an extended period, or not bringing J with her).
“Trong tờ khai hữu thệ cha của J đưa ra sự quan tâm về căn nhà mà trong đó J sẽ lưu lại với bà ngọai và về tình trạng lưu thông tại Thái Lan. Tuy thế, điều phản đối chính là sự nguy hiểm về việc J không được trở lại Úc” (In his Affidavit J’s father puts concern about the house in which J will be staying with her grandmother and about traffic conditions in Thailand. Neverthe- less, the major objection is the risk of j not being returned to Australia).
Tòa đã xem xét “mức độ về sự nguy hiểm mà người mẹ ra đi sẽ không trở lại, liệu quốc gia mà người mẹ đi du hành là quốc gia đã ký kết vào Công Ước Hague về sự bắt giữ trẻ em” (the degree of risk that the departed parent will not return, whether the country of travel is a signatory to the Hague Convention on child abduction).
“Thái lan không phải là quốc gia thừa nhận Công Ước Hague. Hơn nữa, tình trạng tài chánh của các bên đương sự là không bên nào có tài sản cả. Bằng chứng của người mẹ đưa ra là bà ta tùy thuộc vào tiền của Centrelink. Người cha khai rằng ông ta bị phá sản và chỉ được miễn trừ khỏi sự phá sản mới đây. Nguồn lợi tức độc nhất là tiền an sinh xã hội” (Thailand is not a Hague Convention country. Moreover, the financial circumstances of the paties are that neither has any assets. The mother’s evidence is that she relies on Centrelink payments. The father said that he became bankrupt and has only recently discharged from bankruptcy. His only income is social security payments).
“Người mẹ đã và đang sống tại Úc từ năm 2001. Bằng chứng của bà ta là bà định sống vĩnh viễn tại Úc. Bà thấy nước Úc là nơi để cho J khôn lớn, và là nơi có cơ hội cho J” (The mother has been living in Australia since 2001. Her evidence is that she intends to stay permanently in Australia. She see Australia as the place for J to grow up, and the place where there is opportunity for J).
Tuy nhiên, tòa đã đưa ra phán quyết vô hiệu hóa tất cả các án lệnh được đưa ra trước đây liên hệ đến J và đưa ra án lệnh rằng không một bên đương sự nào được phép đưa J ra khỏi nước Úc. Đồng thời yêu cầu cảnh sát liên bang Úc phải thực hiện án lệnh này bằng cách đưa tên của J vào danh sách theo dõi tại các phi cảng và hải cảng cho đến khi có án lệnh mới.
Dựa vào phán quyết vừa trưng dẫn bà có thể thấy được rằng việc bà muốn đưa cháu về Việt Nam trong thời gian 6 tháng là điều khó có thể thực hiện được vì Việt Nam là quốc gia không thừa nhận Công Ước Hague. Hơn nữa lý do của bà không chính đáng.
Nếu bà còn thắc mắc xin điện thọai cho chúng tôi để được giải đáp.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Viện Kiểm Soát Nhân Dân Tối Cao tại Việt Nam đã đề nghị ngưng thi hành án lệnh hành quyết với tử từ Hồ Duy Hải để điều tra lại vụ án này, theo bản tin của Đài Á Châu Tự Do cho biết hôm 2 tháng 12.
Tuần báo OC Weekly đã viết twitter cho biết đóng cửa sau khi chủ nhân là công ty Duncan McIntosh Company đóng cửa tuần báo giấy một ngày trước Lễ Tạ Ơn.
Cha mất rồi. Em buồn lắm, vì không về thọ tang Cha được. Em đang xin thẻ xanh. Sắp được phỏng vấn. Vợ chồng em định năm sau, khi em đã thành thường trú nhân, sẽ về thăm Cha Mẹ. Ngày tạm biệt Cha lên đường đi Mỹ du học bốn năm trước, đã thành vĩnh biệt.
Tôi khẳng định những việc tôi làm là đúng đắn và cần thiết để kiến tạo một xã hội tốt đẹp hơn. Những gì tôi làm không liên can đến vợ con và gia đình tôi. Vì thế, tôi yêu cầu công an Hồ Chí Minh chấm dứt ngay việc sách nhiễu, khủng bố gia đình tôi.
Brilliant Nguyễn là một thanh niên theo trường phái cấp tiến và chủ thuyết Vô Thần (*). Chàng ta không tin ma quỷ đã đành mà cũng chẳng tin rằng có thần linh, thượng đế. Để giảm bớt căng thẳng của cuộc sống, theo lời khuyên của các nhà tâm lý và bạn bè, chàng ta đến Thiền Đường Vipassana ở Thành Phố Berkeley, California để thực hành “buông bỏ” trong đó có rất nhiều cô và các bà Mỹ trắng, nhưng không một ý thức về Phật Giáo
Có những câu chuyện ngày xửa ngày xưa mà chẳng xưa chút nào. Có những chuyện hôm nay mà sao nó xa xưa vời vợi. Chuyện ngày xưa... Có một ngôi chùa ở vùng quê thanh bình, trước mặt là đồng lúarì rào, cánh cò chao trắng đồng xanh. Trong chuà có vị hoà thượng già hiền như ông Phật, lông mày dài bạc trắng rớt che cả mắt...
Ông Gavin Newsom, Thống đốc tiểu bang California, đã tuyên bố ân xá cho hai người đàn ông từng dính vào hai vụ hình sự khác nhau khi họ mới 19 tuổi và đang mong muốn không bị trục xuất về Việt Nam.
Hoang Nguyen, 43 tuổi, bị bắt và bị truy tố về tội trộm sau khi bị cho là đổi nhãn giá trên hơn ba mươi chai rượu vang tuần trước, theo hồ sơ tòa.
Bé ngọc ngà của Mẹ cố thở chút không khí ít oi còn trong buồng phổi. Giây phút cuối. Để ngàn sau dân Hong Kong sống xứng đáng Con Người.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.