Hôm nay,  

Làm Phim Để Nhập Kho

04/04/200400:00:00(Xem: 6518)
Bạn,
Theo báo quốc nội, hiện nay muốn làm 1 bộ phim nhựa, nhà sản xuất phải chi ít nhất 1 tỉ đồng. Mấy năm gần đây, nhiều bộ phim được nhà nước CSVN tài trợ (hoặc đặt hàng) nhiều tỉ đồng, với chương trình đầu tư sản xuất khá quy mô từ kinh phí, kế hoạch, trình duyệt đến thực hiện để chiếu vào những dịp lễ. Mục đích của những bộ phim này là phải thu hút được nhiều khán giả đến xem. Nhưng trên thực tế, phim cao nhất cũng chỉ có vài ngàn hoặc vài trăm lượt người xem. Có nhiều phim chỉ chiếu được duy nhất một buổi ra mắt vào đúng ngày kỷ niệm, sau đó mau chóng... nhập kho, như: "Người đi tìm giấc mơ", "Biển đợi"... Ngay cả bộ phim vừa đoạt Cánh diều Vàng "Người đàn bà mộng du" cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự. Báo Người Lao Động viết như sau.
Những bộ phim được tài trợ lớn do không được đầu tư một cách thỏa đáng về quảng cáo, thời điểm đưa phim ra rạp không thích hợp... nên sự thu hút công chúng còn ở mức hạn chế. Đây cũng là một thói quen cố hữu từ thời còn bao cấp: Các hãng sản xuất đưa phim cho cơ quan phát hành là xem như "đã xong" nhiệm vụ, hầu như không cần biết bộ phim đó có đến được với người xem hay không, lỗ lãi ra sao, vì việc đó đã có những người làm công tác phổ biến phim phải lo.
Khi một phim chuyển sang cơ quan phổ biến phim, ngoài việc xác định đối tượng và khả năng thu hút của nó để đề ra cách phát hành phù hợp, những người làm công tác này phải dự trù kinh phí quảng cáo cho phim. Song vấn đề tồn tại bấy lâu trong điện ảnh Việt Nam là: Chi tiền tỉ cho sản xuất phim, còn đầu tư cho việc quảng cáo dường như ít được quan tâm. Chi phí quảng cáo cho mỗi bộ phim chỉ khoảng trên dưới 10 triệu đồng. Số tiền này chỉ đủ làm tờ rơi, áp phích, bộ ảnh, băng-rôn treo trước rạp... Còn chuyện quảng cáo như các sản phẩm hàng hóa khác trên báo chí, nhất là trên truyền hình thì hãy còn bất cập vì không đủ chi phí.

Ở các nước có nền điện ảnh phát triển, kinh phí quảng cáo cho bộ phim thường chiếm 30% vốn sản xuất phim. Khi bộ phim chuẩn bị bấm máy, chiến dịch quảng cáo cũng bắt đầu rầm rộ. Các đối tác đưa phim nước ngoài vào chiếu ở Việt Nam luôn đặt công tác quảng cáo phim lên hàng đầu trước khi bộ phim được chiếu chính thức, chưa kể trước đó, qua việc thông tin, các bộ phim này đã được quảng cáo miễn phí trên các phương tiện thông tin ở VN (như các phim "Chúa tể của những chiếc nhẫn" (phần I), "Trân Châu cảng", "Người hùng"... chẳng hạn). Và riêng cho quảng cáo, họ đã chi từ 300 - 400 triệu đồng, hoặc ít nhất cũng phải trên 100 triệu đồng/phim. Mới đây, khi phát hành các phim "Lưới trời, Gái nhảy và Lọ lem hè phố", các nhà sản xuất phim VN đã mạnh dạn dám chi đến hơn 100 triệu đồng/phim cho quảng cáo và hiệu quả của sự đầu tư này đã góp phần đáng kể trong việc lôi kéo một số lượng lớn người xem tới rạp.
Bạn,
Báo NLĐ cho rằng việc đầu tư cho công tác quảng cáo không được các hãng phim VN quan tâm đúng mức, nên không thu hút được công chúng đến với phim Việt Nam một cách tích cực và hiệu quả nhất. Do đó, dù có bỏ ra hàng tỉ đồng để sản xuất phim mà hiệu quả không đến được người xem thì khác nào đem tiền đổ sông đổ biển.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong ký ức nhiều thế hệ người Sài Gòn còn in đậm hình ảnh những người thợ bận rộn nhồi bột, vo nhân, in khuôn nướng bánh trung thu phục vụ khách qua đường vào những năm đầu 1960 trên trục đường Trần Hưng Đạo nối liền Sài Gòn - Chợ Lớn lúc nào cũng người mua kẻ bán sầm uất. Đó là hình ảnh những người thợ làm bánh trung thu của Nhà hàng Đồng Khánh, góc đường Trần Hưng Đạo - Đồng Khánh (cũ), quận 5. Báo Người Lao Động viết như sau.
Theo ghi nhận của báo quốc nội, gần 30 năm qua, hàng chục ngàn dân ở Thủ Đức phải dùng nước không bảo đảm vệ sinh. Điều nghịch lý là nhiều gia đình sống gần nhà máy nước Thủ Đức nhưng luôn "khát nước". Tại nhiều khu vực, nguồn nước để người dân sử dụng chủ yếu vẫn là giếng khoan. Mặc dù độ sâu của giếng thường trên 60m
Tại ở ấp Chánh Mỹ, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, sáng nào người dân cũng thấy một ông lão trạc 80 tuổi mặc cái áo bành tô, quần "bò" bạc màu, đầu trần, chân mang đôi dép da có quai hậu ngồi trên chiếc ghế đá ở đường Bạch Đằng - cạnh bờ sông chuẩn bị cho một ngày mới với công việc đánh xe ngựa. Ông lão này là một trong hai người đánh xe ngựa cuối cùng ở thị xã tỉnh lỵ Bình Dương
Theo báo Thanh Niên, công an CSVN thành phố Sài Gòn vừa bắt 1 tay đạo chích thuốc hàng cao thủ: chỉ trong vòng hơn 1 năm, trộm liên tục đột nhập vào các cơ quan công quyền CSVN (có nhân viên bảo vệ hẳn hoi) giữa ban ngày và ung dung dắt ra khỏi cổng hàng chục chiếc xe của các quan chức, nhân viên. Báo TN ghi lại "thành tích đạo chích" của kẻ trộm này như sau.
Trong thời gian gần đây, tình trạng chơm bản quyền khơng chỉ xảy ra trong giới soạn nhạc, mà cịn lan sang sân khấu cải lương, thoại kịch, và cả hài kịch. Về sân khấu hài, thành phần bị chơm bản quyền là những diễn viên từ quê lên tỉnh. Lợi thế của những diễn viên nàu là biết ca vọng cổ, nên việc sáng tác các tiểu phẩm hài kịch "mì ăn liền" khơng khĩ
Tại SG, có 1 thanh niên kiếm sống nhờ dịch vụ trang điểm cho gái bán bar. Chỉ với bộ đồ nghề đơn giản vài ba thỏi son; hai cây chổi quét mặt loại lớn, nhỏ; một cây chì kẻ; hai, ba hộp phấn màu..., nhưng qua bàn tay của thanh niên này, khuôn mặt các cô phục vụ bar trở thành một "thế giới nổi loạn". Tin Nhanh VN viết về thanh niên này như sau.
Tại VN, luật sư được dân gian gọi là "thầy cãi", phần nào chỉ sự ăn nói khôn khéo của họ trước pháp đình. Tuy nhiên, đôi khi họ cũng phải vướng vào tình cảnh "thần khẩu hại xác phàm". Báo Thanh Niên ghi lại 1 số trường hợp như sau. Cuối tháng 8/2004, ông Nguyễn Xuân Ngữ (59 tuổi, ngụ tại phường Long Thạnh Mỹ, Quận 9, TP.SG) đã gửi đơn đến Tòa án Quận 9
Theo báo quốc nội, toàn thành phố SG có 57 nhóm hài đang hoạt động, trong số đó có đến 2/3 số diễn viên xuất thân từ các đoàn cải lương miền Tây Nam phần. Các đoàn tan rã, họ lên Sài Gòn đi tấu hài kiếm sống. Để được làm diễn viên hài có khi họ phải trả bằng nước mắt.Khi sân khấu cải lương lâm vào cảnh đìu hiu, nhiều nghệ sĩ cải lương rẽ sang nghề tấu hài để nuôi sống gia đình và bản thân.
Tại Sài Gòn, nhà hàng, quán nhậu là nơi tiếng hát bị át đi bởi tiếng cười, nói và tiếng cụng ly của dân ăn nhậu. Do vậy, những nơi này là điểm dừng chân của các ca sĩ mà "sự nghiệp" âm nhạc "lận đận" hay đã kết thúc ở các phòng trà.Báo Người Lao Động ghi nhận tình cảnh của những ca sĩ hát ở quán nhậu qua đoạn ký sự như sau.
Theo báo quốc nội, trên con đường Lê Công Kiều, quận 1 TPSG, có 1 khu phố với những cửa hàng nho nhỏ khiêm tốn bày bán các mặt hàng đồ cổ và đồ mỹ nghệ. Đây là địa chỉ khá quen thuộc của du khách trong và ngoài nước. Việc kinh doanh đồ cổ và giả cổ tại con đường này bắt đầu từ những năm 1980 và bắt đầu phát đạt từ thập niên 1990
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.