Khi Tổng thống Trump quay lại cầm quyền, hàng loạt dữ liệu môi trường của chính phủ liên bang (trong đó có EJScreen) đã bị xóa, khiến giới nghiên cứu phải vội vã lưu giữ. Các chuyên gia cảnh báo việc này gây cản trở những nỗ lực bảo vệ cộng đồng đang gánh chịu nguy hại từ ô nhiễm và biến đổi khí hậu. (Nguồn: Ảnh do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo với sự hỗ trợ của ChatGPT từ OpenAI)
Một buổi sáng nọ tại văn phòng ở Đại học Harvard, Dylan Carlson Sirvent León nhận được hàng loạt tin nhắn hoảng hốt từ các đồng nghiệp: dữ liệu về môi trường trên các trang web của chính phủ liên bang đang dần “bốc hơi.”
Thời điểm ấy là tháng Giêng, Tổng thống Trump vừa bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai. Giới khoa học ở Hoa Kỳ đã chuẩn bị sẵn tinh thần là một số thông tin có thể sẽ bị gỡ, giống như những gì từng diễn ra trong nhiệm kỳ đầu. Ngay sau kỳ bầu cử tháng 11, nhiều nhóm nghiên cứu ở Harvard đã cẩn trọng lưu lại dữ liệu về khí thải nhà kính và chất lượng không khí. Nhưng nay, tình hình ngày càng xấu đi.
“Đang yên đang lành, những dữ liệu mà chúng tôi nghĩ sẽ được an toàn lại lần lượt biến mất. Cả nhóm nháo nhào tìm cách cứu lấy dữ liệu,” Carlson Sirvent León, nghiên cứu viên ngành khoa học xã hội phương pháp định lượng, kể lại.
Trong số dữ liệu bị gỡ bỏ có công cụ EJScreen của Cơ Quan Bảo Vệ Môi Trường Hoa Kỳ (EPA). Đây là nguồn thông tin quan trọng được các khoa học gia như León tin cậy, dùng để xác định cộng đồng nào chịu tổn hại nặng nề nhất từ ô nhiễm môi trường.
León cùng nhóm nghiên cứu tại Viện Salata của Harvard bắt đầu lao vào “chiến dịch cứu nạn khẩn cấp,” tải về càng nhiều dữ liệu từ EJScreen càng tốt. Có lúc máy tính không còn chỗ trống, họ phải chuyển từng lô tập tin lên hệ thống lưu trữ đám mây. Việc đó vừa chậm vừa khiến họ căng như dây đàn, nhưng cuối cùng cũng thành công.
Nhờ vậy, dữ liệu từng biến mất đã được khôi phục qua phiên bản tái tạo, dựa trên những gì nhóm của León kịp lưu lại.
Tuy nhiên, theo giới chuyên gia, điều này chỉ giải quyết được phần ngọn chứ không thể giải quyết tận gốc vấn đề. Dữ liệu từ công cụ này và nhiều công cụ khác đang bị “đóng băng” vì chính phủ liên bang đã ngừng thu thập và công bố thông tin cập nhật.
“Những gì chúng tôi đang làm giống như dùng một xô nước nhỏ để tạt vô đám cháy lớn,” León cho biết. “Trách nhiệm giữ gìn dữ liệu lẽ ra thuộc về chính phủ liên bang mới đúng.”
Trên khắp Hoa Kỳ, các khoa học gia và các tổ chức vô vụ lợi bày tỏ lo ngại rằng việc chính phủ ngừng thu thập và công bố dữ liệu sẽ cản trở những nỗ lực giúp đỡ các cộng đồng chịu nhiều nguy hại từ ô nhiễm và biến đổi khí hậu, cũng như làm suy yếu tiến trình xóa bỏ bất bình đẳng trong việc môi trường sống lành mạnh.
“Chúng ta không chỉ mất đi năng lực bảo vệ người dân trước ô nhiễm, mà ngay cả khả năng nhận biết ai đang bị ảnh hưởng cũng chẳng còn,” Hannah Perls, luật sư cấp cao của Chương Trình Luật Môi Trường và Năng Lượng, Đại học Harvard, cho biết.
Perls đã cùng đồng nghiệp chạy đua với thời gian để lưu trữ dữ liệu từ EJScreen và nhiều công cụ khác. Nhưng lo lắng của bà vẫn chưa vơi: “Chúng ta đang cố tình tự bịt mắt trước những thách thức phía trước. Và điều đó thực sự đáng sợ.”
Đằng sau những quyết sách gây tranh cãi
Theo Gretchen Gehrke, đồng sáng lập Sáng Kiến Dữ Liệu và Quản Trị Môi Trường (Environmental Data and Governance Initiative), EJScreen chỉ là một trong ít nhất 16 công cụ của chính phủ liên bang về môi trường, y tế và công bằng xã hội bị gỡ bỏ kể từ khi Trump trở lại Tòa Bạch Ốc.
Tổ chức của bà đã kịp lưu giữ dữ liệu của 13 công cụ, trong đó giữ nguyên được 5. Chúng bao gồm bản đồ dự báo các khu nghèo sẽ bị ảnh hưởng nặng bởi biến đổi khí hậu (chẳng hạn mất mùa, cháy rừng), báo cáo cơ nguy khí hậu theo từng quận, và bản đồ cho thấy sự khác biệt trong việc sử dụng phương tiện giao thông công cộng.
Lý do dữ liệu biến mất bắt nguồn từ sắc lệnh hành pháp bãi bỏ toàn bộ các chương trình về đa dạng, công bằng và hòa nhập (DEI). Trong số đó có các dự án đã sử dụng khái niệm “công bằng môi trường.”
Theo định nghĩa, “công bằng môi trường” (environmental justice) là nỗ lực bảo đảm cư dân tại những khu vực nghèo và cộng đồng da màu (vốn thường phải sống chung với ô nhiễm) được sống trong môi trường trong lành. Nhưng các viên chức chính quyền Trump cho rằng các chương trình này vừa tốn kém, vừa thiên vị, vì không áp dụng đồng đều cho tất cả người dân Hoa Kỳ.
Trả lời phỏng vấn của trang WBUR, EPA khẳng định cơ quan “đang tích cực thực hiện những sắc lệnh hành pháp do Tổng thống Trump ban hành, trong đó có sắc lệnh ‘Chấm dứt các chương trình DEI cực đoan và tốn kém của chính phủ,’ cũng như những chỉ dẫn thực hiện có liên quan.”
Thông cáo có viết: “Trump được nhân dân Mỹ bầu chọn với sứ mệnh phải làm điều này. Trong nhiệm kỳ đầu, Tổng thống Trump đã thúc đẩy bảo tồn và bảo vệ môi trường; và bước sang nhiệm kỳ hai, EPA sẽ tiếp tục trọng trách bảo vệ sức khỏe cộng đồng cũng như môi trường.”
Hồi tháng 3, EPA chính thức đóng cửa các văn phòng công bằng môi trường. Quản trị viên Lee Zeldin cho rằng những nỗ lực này “nghe thì rất hay khi nói đến việc giúp đỡ những cộng đồng yếu thế về môi trường, nhưng trên thực tế, các quỹ này lại rơi vào tay những nhóm hoạt động cánh tả.” Ông nhấn mạnh các chương trình của chính quyền Trump sẽ “không phân biệt đối xử.”
“Khi Tổng thống Trump nói về một Thời Hoàng Kim của nước Mỹ, thì đó là thời đại dành cho tất cả mọi người, bất kể sắc tộc, phái tính, tôn giáo hay nguồn gốc,” Zeldin khẳng định.
Massachusetts trước thách thức mới
Ở Massachusetts, không ít tổ chức môi trường dựa vào các công cụ do liên bang cung cấp để phục vụ cộng đồng.
Thí dụ, Hiệp Hội Lưu Vực Sông Mystic từng dùng EJScreen để biết những khu vực nào trong lưu vực nóng bức nhất khi có đợt nắng nóng, và số lượng người cao niên tại đó thường sử dụng phương tiện công cộng. Nhờ đó, tổ chức vô vụ lợi ở Arlington chọn được vị trí thích hợp để dựng các trạm xe buýt có mái che.
“Vấn đề nằm ở chỗ chúng ta có mang được đúng giải pháp tới đúng người, đúng cộng đồng hay không,” Isaiah Johnson, quản trị viên truyền thông của hiệp hội, nhấn mạnh.
Ông cũng cho rằng dữ liệu từ các công cụ của chính phủ liên bang có thể giúp tăng tính thuyết phục cho hồ sơ xin tài trợ, nhờ chứng minh quy mô của vấn đề.
Giáo sư Marcos Luna thuộc Đại học Bang Salem, hiện là thành viên Hội Đồng Công Bằng Môi Trường (Environmental Justice Council) Massachusetts, cho biết các cơ quan tiểu bang dựa nhiều vào dữ liệu từ chính phủ liên bang để xây dựng quy định về môi trường.
“Đó là nền tảng vô hình mà ai cũng mặc nhiên thừa nhận,” Luna nói.
Năm 2024, Massachusetts trở thành tiểu bang đầu tiên yêu cầu mọi hồ sơ xin phép cho dự án năng lượng mới phải kèm theo bản phân tích về lịch sử tình hình ô nhiễm tại khu vực đặt dự án. Để hỗ trợ các công ty, xí nghiệp, Sở Bảo Vệ Môi Trường tiểu bang đã làm ra một công cụ mới dựa trên dữ liệu từ EJScreen.
“Các nguồn dữ liệu liên bang đáng tin cậy giúp chúng tôi vừa cắt giảm chi phí, vừa bảo vệ sức khỏe cộng đồng và thúc đẩy kinh tế địa phương,” cơ quan cho biết. “Massachusetts luôn giữ vững cam kết bảo đảm công bằng môi trường và công bằng xã hội.”
Theo Jon Levy, Chủ nhiệm Khoa Sức Khỏe Môi Trường tại Trường Y Tế Công Cộng (Đại học Boston), các cộng đồng địa phương đã mất nhiều thập niên kiên trì vận động mới có được những công cụ như EJScreen. Ông nói: “Nếu mất đi những công cụ như vậy, thiệt hại mà các nhà nghiên cứu phải chịu sẽ chẳng là gì so với người dân.”
Khi cộng đồng tự lần tìm lối đi
Việc thay đổi chính sách liên bang còn khiến nhiều cộng đồng gặp khó khăn trong thu thập dữ liệu riêng.
Trung Tâm Hitchcock tại Amherst từng được duyệt khoản tài trợ công bằng môi trường trị giá 500,000 MK từ EPA để mở rộng mạng lưới máy đo chất lượng không khí. Nhưng khi chính quyền Trump hủy gói ngân sách này (cùng hàng triệu MK tài trợ khác trên khắp Massachusetts), dự án cũng bị dang dở.
Chrissy Larson, điều phối viên giáo dục tại trung tâm, giải thích các thiết bị giám sát sẽ giúp theo dõi sự khác biệt về chất lượng không khí trong khu vực trải dài từ những thung lũng đến tận các ngôi làng ở vùng cao North Quabbin. Bà hy vọng mạng lưới mở rộng này sẽ giúp người dân đưa ra lựa chọn sáng suốt hơn khi đối mặt với khói cháy rừng Canada ngày càng tồi tệ. Họ sẽ có cơ sở để quyết định tổ chức hay hủy bỏ các hoạt động ngoài trời, hoặc có nên cho học sinh nghỉ học hay không.
“Vấn đề cốt lõi nằm ở dữ liệu,” Larson nhấn mạnh. “Tất cả chúng ta đều có quyền được hít thở bầu không khí an toàn.”
Giám đốc trung tâm Billy Spitzer thì cho rằng chính quyền Trump đang hiểu sai về công bằng môi trường. Ông giải thích: “Đó là những cộng đồng vốn đã phải gánh chịu hậu quả từ các hoạt động công nghiệp, hay những quyết định quy hoạch xa lộ. Điều này chẳng liên quan gì đến chính trị cả. Nó đơn giản là xác định được tác động xảy ra ở đâu và nhu cầu thực sự nằm ở chỗ nào.”
Trong tháng 6, một vụ kiện tập thể được đệ trình nhằm khôi phục các khoản tài trợ công bằng môi trường cho các tổ chức như Hitchcock. Trong lúc chờ đợi, Spitzer cho biết trung tâm sẽ tìm nguồn quỹ khác để tiếp tục dự án đo chất lượng không khí. Ông nói: “Chúng tôi không thể coi như mọi chuyện đã chấm dứt. Nỗ lực này có ý nghĩa to lớn và thực sự mang lại lợi ích cho cộng đồng.”
Cung Đô biên dịch
Nguồn: “'We’re willfully blinding ourselves': Mass. researchers worry as federal environmental data disappears” được đăng trên trang wbur.org.
Gửi ý kiến của bạn


