Hôm nay,  

Dân Kurd Kéo Thổ Vào Cuộc

26/10/200700:00:00(Xem: 8071)
Chuyện Iraq thêm rối bù vì yếu tố Thổ Nhĩ Kỳ...

Trong một giai đoạn khá lâu, xứ Turkey (Thổ Nhĩ Kỳ) là cường quốc ổn định giữa một khu vực nhiễu nhương trong vùng đất chiến lược của đại lục địa Âu-Á và hai thế giới Âu châu và Hồi giáo. Tình trạng ấy có thể đang chấm dứt ngay trước mắt chúng ta.

 Về địa dư chiến lược, Turkey là hậu thân của Đế quốc Thổ (Ottoman Empire), với đa số theo Hồi giáo, nhưng bao gồm nhiều sắc tộc và văn hoá khác biệt. Khi đế quốc Ottoman tan rã từ những biến động của Âu châu trong Thế chiến I (1914-1919), các cường quốc Âu châu đã xé vụn lãnh thổ của họ mà không kể đến thực tế sắc tộc ở từng địa phương. Đó là kết quả của Thỏa ước Sèvres ký kết vào năm 1920.

Nhờ vậy, Hy Lạp (Grece) và Armenia đã thừa hưởng nhiều vùng đất trước kia là của đế quốc Ottoman, và cũng thừa hưởng mối hiềm thù với dân Thổ của quốc gia Turkey. Grece và Turkey là hai nước kình địch, còn dân Armenia đã bị dân Thổ tàn sát, hay bỏ đói, trong những năm nhiễu loạn kéo dài, từ 1915 đến 1922.

Ngược lại, một sắc dân đông đảo là người Kurd thì không có quê hương hay lãnh thổ. Họ sống phân tán dưới sự cai trị của các thị tộc trên lãnh thổ của Turkey, Iraq, Iran và Syria, đông nhất là tại Turkey.

Khi Turkey tuyên bố độc lập và xây dựng lại quốc gia, vị anh hùng lập quốc Mustafa Kemal Attaturk muốn thoát khỏi quá khứ Hồi giáo của đế quốc Ottoman, ông canh tân xứ sở thành một quốc gia tân tiến, hiện đại, theo thế quyền và gần với quan điểm của Tây phương. Mô hình xây dựng và phát triển ấy của Turkey đã là mẫu mực cho nhiều xứ lân cận và cho những nước sau này giành lại độc lập từ chế độ thực dân của Âu châu.

Sau Thế chiến II, Turkey đứng hẳn về phe Tây phương, gia nhập Minh ước phòng thủ Bắc Đại Tây Dương NATO và là đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ và Tây Âu. Ở vào vị trí bản lề của hai lục địa và nhiều nền văn hoá khác biệt, sự chọn lựa ấy của Turkey, và dân Thổ, là yếu tố ổn định quan trọng. Lý do là Turkey giữ vị trí bản lề, từ Địa trung hải của Âu châu qua Hắc hải của Liên Xô; từ vùng Balkan và Liên bang Nam Tư với biển Caspian và Vịnh Á Rập: giữa Âu châu da trắng và khối Hồi giáo tại Trung Đông.Nói vắn tắt là giữa Âu châu và Á châu, giữa hai khối Đông-Tây trong thời Chiến tranh lạnh...

Ở giữa các thế lực đối chọi ấy, Turkey chọn Âu châu và thế giới tự do của phương Tây: trí thức, tướng lãnh và chuyên gia của họ đều tốt nghiệp các đại học Tây phương và cố gắng xây dựng một nền dân chủ "mạnh" trong một xã hội mà đa số vẫn theo đạo Hồi.

Trong hơn nửa thế kỷ, Turkey trở thành thế lực ổn định và nhờ vậy đã tiến lên vị trí cường quốc kinh tế và quân sự trong khu vực. Turkey có nền kinh tế đứng hàng thứ 15 trên thế giới, trước Indonesia (một quốc gia Hồi giáo đông dân nhất), Saudi Arabia (một xứ Hồi giáo ngồi trên mỏ dầu khí) hay Pakistan, một cường quốc Hồi giáo khác tại Nam Á. Và là thành viên NATO, với những căn cứ quân sự cho phép Tây phương khống chế được một khu vực then chốt. Quân lực Turkey còn đóng chốt tại vùng đất tiếp giáp với Iraq.

Cái giá phải trả cho sự ổn định ấy là xã hội dần dần bị tách đôi giữa thiểu số ưu tú thân Tây phương và đa số theo đạo Hồi và nghi ngờ giá trị phóng túng của Tây phương. Nạn tham nhũng và khủng hoảng kinh tế đã khiến xu hướng Hồi giáo thắng thế và thắng cử năm 2002, rồi tái đắc cử với một đa số còn lớn hơn vào tháng Bảy vừa qua.

Tuy nhiên, dù có ảnh hưởng Hồi giáo rất mạnh, đảng cầm quyền của Thủ tướng Recep Tayyip Erdogan vẫn chủ trương ôn hoà về tôn giáo - không đòi xứ sở trở lại chế độ thần quyền của đạo Hồi - và không muốn các tướng lãnh (thân Tây phương) bất mãn hay lo sợ mà tiến hành đảo chính để cướp chính quyền (như trường hợp Pakistan vào năm 1999).

Cái giá thứ hai của sự ổn định tại Turkey, dân Kurd phải trả.

Nỗi khát khao độc lập và lập quốc của họ coi như bị dập tắt từ 1920. Họ sống tập trung tại miền Nam Turkey và nhìn qua đồng bào tại Iraq, Iran và Syria, họ tiếp tục mơ ước sự hình thành một "quốc gia của dân Kurd", gọi là Kurdistan. Sự hình thành ấy trực tiếp đe dọa mối lo truyền thống của dân Thổ là thấy lãnh thổ Turkey bị xé làm đôi, phân nửa miền Nam trở thành một phần của xứ Kurdistan. Nếu lại sát nhập với dân Kurd ở miền Bắc Iraq, xứ Kurdistan này còn là một nước đáng nể, vì ngồi trên mỏ dầu! Sự hình thành ấy cũng đe dọa sự vẹn toàn lãnh thổ của Iraq, Iran và cả Syria, là nơi có nhiều người Kurd sinh sống.

Trong một chừng mực nào đó, Turkey, Iraq và Iran trở thành đồng minh khách quan vì có chung một mục tiêu là bóp nghẹt hy vọng lập quốc của dân Kurd. Chính quyền Ankara của dân Thổ còn mặc nhiên cộng tác với chế độ Baghdad của Saddam Hussein để triệt hạ các tổ chức đấu tranh giành độc lập của dân Kurd.
Từ xứ Turkey xuống tới Iraq, dân Kurd này có ba tổ chức mạnh nhất.

Đảng Công nhân Kudistan (PKK) là lực lượng cực đoan nhất, chủ trương đấu tranh võ trang và khủng bố trên lãnh thổ Turkey (và bị Hoa Kỳ đưa vào danh mục khủng bố). Tại phía Nam của vùng hoạt động của PKK - và trên lãnh thổ Iraq - là đất hùng cứ của đảng Dân chủ Kurd (KDP). Kế tiếp là khu vực tung hoành của Liên minh Ái quốc Kurdistan (PUK). Vì hoàn cảnh địa dư và chính trị tại từng nơi, mỗi lực lượng lại theo đuổi một chiến lược khác, cực đoan hay ôn hoà, và cố gắng tương nhượng lẫn nhau vì cùng chia sẻ một di sản Kurd.

Sau khi duyệt lại tình hình chung như vậy, chúng ta mới trở lại hiện tại.

Hiện tại ấy thực ra khởi sự từ 1991, khi Saddam Hussein tấn công xứ Kuweit và bị Hoa Kỳ thời Tổng thống George H. Bush (Bush 41) chặn đứng.

Nhằm khống chế Iraq và bẻ càng Saddam Hussein, Hoa Kỳ cho dân Kurd tại Iraq nhiều quyền tự trị hơn. Phân nửa mạn Bắc của Iraq được bảo vệ bởi quy chế "vùng cấm bay" - không cho không quân của Baghdad oanh tạc. Lực lượng bảo vệ khu vực ấy sử dụng căn cứ Incirlik (đọc là injurlik) của NATO nằm trong lãnh thổ Turkey!

Được Hoa Kỳ bảo vệ, dân Kurd tại Iraq giữ lập trường "thân Mỹ", tức là ôn hoà, và tìm cách giành thế mạnh. Bên kia biên giới, lực lượng PKK không chịu lép vế và tung đòn khủng bố trên lãnh thổ Turkey rồi rút lui về hậu cứ nằm trong vùng núi non hiểm trở của Iraq. Năm 1995, Ankara đã đưa ba vạn quân vào truy quét phiến loạn
PKK trong đất Iraq, nghĩa là dưới khu vực bảo vệ dân Kurd của Hoa Kỳ.

Nhìn từ Ankara, việc Hoa Kỳ tấn công Saddam Hussein và nâng đỡ dân Kurd tại Iraq lại đi ngược mục tiêu của Turkey. Thay vì là một đồng minh chiến lược góp phần ổn định như trong nửa thế kỷ, Hoa Kỳ trở thành siêu cường gây rối cho Turkey!

Vì vậy, sau khi đắc cử năm 2002, Chính quyền (thân Hồi giáo) Recep Erdogan mới chống lại quyết định tấn công Iraq của Chính quyền George W. Bush, không cho Mỹ mượn lãnh thổ làm bàn đạp tiến vào giải phóng mạn Bắc Iraq. Nhưng Turkey vẫn không thể trở mặt với đồng minh chiến lược: liên quân Mỹ vẫn sử dụng căn cứ không quân Incirlik làm trạm trung chuyển khoảng 70% số võ khí và quân cụ của Hoa Kỳ vào Iraq.

Tình hình trở thành rắc rối hơn khi hai lực lượng PUK và KDP sát cánh với Mỹ trong mối tranh chấp tay ba với sắc dân Sunni và Shia và các lãnh tụ Kurd gia nhập hệ thống lãnh đạo mới của Iraq tại Baghdad. Tổng thống Iraq ngày nay là lãnh tụ của lực lượng PUK, cầm đầu "Chính quyền địa phương Kurd" (KRG) là ông Massoud Barzani, thủ lãnh đảng KDP. Trong giấc mơ chung của dân Kurd, hai lực lượng PUK và KDP có thể đã đạt một phần, bằng đường lối ôn hoà, nghĩa là hợp tác với Mỹ, và đang giành được nhiều quyền hạn chính trị và quyền lợi kinh tế chưa khi nào họ có được.

Chiến lược ấy gây phản ứng bất an cho cả hai phía. Lực lượng PKK sợ bị cô lập trong chủ trương hiếu chiến và quá khích nên muốn phá vỡ cái thế thượng phong của hai đảng KDP và PUK trên lãnh thổ Iraq. Phía Turkey thì chẳng yên tâm với sự hình thành của một khu vực Kurd có dầu hoả ở bên kia biên giới. Dân Thổ càng thấy lo khi phe Kurd có khi thắng lớn nếu lãnh thổ Iraq bị chia thành ba quốc gia cho ba cộng đồng Kurd, Sunni và Shia.

Hoa Kỳ bị kẹt ở giữa những tranh chấp của hai đồng minh quan trọng như nhau là Turkey và phe Kurd tại Iraq. Lực lượng PKK bèn tung đòn khiêu khích để kéo Turkey vào cuộc bằng cách tấn công các đơn vị Turkey ngay sau khi Quốc hội Turkey cho phép đưa quân vào Iraq, ngày 21 vừa qua. Đòn khiêu khích đáng ngại của PKK còn được sự cổ võ bất ngờ của... Quốc hội tại Hoa Kỳ, khi Ủy ban Ngoại giao Hạ viện Mỹ bỏ phiếu ủng hộ nghị quyết lên án Turkey về tội diệt chủng khi tàn sát dân Armenia năm 1915!

Lực lượng PKK muốn phá vỡ thế hợp tác để ổn định của Hoa Kỳ khiến hai phe PUK (của Tổng thống Talabani) và KDP (của Barzani) ở vào thế khó xử nếu không yểm trợ dân Kurd tại Turkey hoặc nếu thẳng tay diệt trừ phiến quân PKK theo lời đòi hỏi của Ankara (hay yêu cầu của Chính quyền Bush). Quốc hội Dân chủ cũng không muốn Chính quyền Bush đạt thành quả ổn định tại Iraq, một bất lợi cho đảng này trong cuộc tranh cử năm tới.

Đấy là những động lực ngoắt ngoéo của các phe liên hệ khiến lực lượng PKK giật đuôi cọp để kéo Turkey phá vỡ bàn cờ của Mỹ, trong khi cả Hoa Kỳ lẫn Ankara và dân Kurd tại Iraq đang cố trì hoãn những quyết định nguy hiểm cho toàn vùng.
Nhìn trên một viễn cảnh dài, là điều bất khả cho các chính khách Mỹ, Turkey phải kết luận là kỷ nguyên hợp tác với Hoa Kỳ nay đã kết thúc vì Mỹ lấy quyết định theo quyền lợi của Mỹ, bất kể tới mối quan tâm sinh tử của mình.

Nhưng, họ có thể làm gì"

Họ nhìn thấy nhiều chuyển động lớn trong thế giới Hồi giáo và sức cám dỗ của loại chủ trương cực đoan đang gây bất ổn cho mọi xứ có dân Hồi sinh sống, từ Philippines tới Pakistan về đến Saudi Arabia và Lebanon. Những bất ổn đó có thể gây nội loạn trong xứ sở, với đa số theo đạo Hồi và nghi ngờ thiện chí của các nước Tây phương.

Nhìn xa hơn nữa, sau khi Liên Xô tan rã và Liên bang Nga bị khủng hoảng, Vladimir Putin đang khôi phục ảnh hưởng truyền thống của đế quốc Nga, từ vùng Balkan ở phía Tây-Bắc qua biển Hắc hải (Ukraine) ở phía Bắc tới Georgia và Armenia ở phía Đông-Bắc. Nga cũng không che giấu ý định tái xuất hiện tại Địa trung hải và còn muốn bênh vực Iran trong mối quan hệ căng thẳng với Hoa Kỳ. Nếu Chính quyền Bush yếu thế mà phải nhượng bộ Iran tại Iraq, Turkey càng thêm lo. Và Hoa Kỳ mà củng cố thế lực Kurd tại Iraq để khỏi tuột tay trong cả khu vực rộng lớn này, Turkey có thể bị loạn to.

Ankara không muốn cắt dây đoạn tuyệt với Mỹ, nhưng biết rằng khi lâm nạn, Hoa Kỳ sẵn sàng bỏ rơi đồng minh  - truyền thống ngoại giao con buôn của Mỹ - nên họ phải tự lo lấy thân. Điều đáng ngại nhất khi dân Thổ tự lo lấy thân là... hợp tác với Nga và Iran, một chuyện không hẳn là phi lý. Turkey và Iran có chung một mối lo là dân Kurd. Và nếu một siêu cường ổn định như Hoa Kỳ lại cứ gây bất ổn như vậy, một sự thoả hiệp với Nga có thể là giải pháp an toàn cho Turkey tại nhiều cửa, từ vùng Balkan về tới Armenia!

Điều ấy càng là một cám dỗ lớn khi Turkey bị các cường quốc Âu châu từ chối không cho gia nhập Liên hiệp Âu châu.

Nhìn lại như vậy thì quyền lợi của Turkey đã tách rời khỏi những tính toán cổ điển của Hoa Kỳ và Âu châu cho nên cường quốc này phải cựa mình. Đúng lúc ấy, sự khiêu khích của lực lượng PKK cùng thái độ vô ý thức của Quốc hội Mỹ có thể làm Turkey nghiêng cánh trong một vùng đất mà dầu thô và võ khí là những sản phẩm thông dụng nhất.

Dầu thô vượt giá 90 đô la một thùng và hai đồng minh của Mỹ nã đạn vào nhau tại Iraq là những dấu hiệu tiên báo...

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.