Hôm nay,  

Những Bi Kịch Sau Ngày Toàn Quốc Kháng Chiến

21/12/200600:00:00(Xem: 12467)

Những Bi Kịch Sau Ngày Toàn Quốc Kháng Chiến

Tháng 12 năm nay, đảng Cộng sản Việt Nam đã huy động khá nhiều địa phương tổ chức kỷ niệm cái gọi là ngày toàn quốc kháng chiến chống Pháp xảy ra cách này 60 năm vào ngày 19 tháng 12 năm 1946. Vào lúc đó, Hồ Chí Minh trên danh nghĩa là chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa mà họ đã cướp được từ tay chính quyền Trần Trọng Kim vào tháng 8 năm 1945 sau khi Nhật đầu hàng đồng minh, kêu gọi đồng bào toàn quốc, đặc biệt là tại Hà Nội phải rút khỏi thành phố để chống lại các cuộc tấn công của quân đội Pháp. Cũng vào lúc đó, Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam đã cho rằng người Pháp đã phản bội Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp ngày 6 tháng 3 năm 1946 và xâm phạm tạm ước ngày 14 tháng 9 năm 1946 mà hai phía gồm chính quyền Việt Minh và chính quyền thuộc địa Pháp đang thảo luận nhằm giải quyết vấn đề độc lập của Việt Nam. Nếu những ai không thuộc sử hoặc bị kích thích bởi tinh thần dân tộc mù quáng, dễ tin rằng các đều nêu ra của đảng Cộng sản Việt Nam - hay nói đúng hơn là của chính quyền Việt Minh vào thời đó - là đúng và cuộc kháng chiến có chính nghĩa. Sự thật không phải như vậy.

Tình hình Việt Nam vào tháng 8 năm 1945 sau khi quân đội Nhật đầu hàng đồng minh, đã rơi vào khoảng trống chính trị. Việt Minh đã lợi dụng cơ hội này thực hiện cuộc tổng khởi nghĩa, cướp chính quyền và đã khai thác việc các công chức và đồng bào tổ chức mít tinh ủng hộ chính quyền Trần Trọng Kim vào lúc đó, để cướp chính quyền vào ngày 19 tháng 8 năm 1945. Hai tuần sau, Hồ Chí Minh và ban lãnh đạo Việt Minh công bố bản tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình vào ngày 2 tháng 9. Không khí của cả nước vào lúc đó rất vui mừng vì lòng người, ai ai cũng muốn nước nhà độc lập và thống nhất. Các đảng phái, lực lượng chính trị và tôn giáo của người quốc gia đã cùng hợp tác với Việt Minh nhằm xây dựng một chính quyền Việt Nam độc lập, thống nhất sau khi Thế Chiến Thứ Hai kết thúc. Kết quả của sự hợp tác này là sự ra đời một chính phủ nhiều thành phần tham gia gồm đại diện các đảng phái quốc gia và Cộng sản qua danh xưng Việt Minh. Ngoài ra, tuy chưa phổ cập trên toàn quốc, nhưng người dân Việt Nam đã tham gia bầu cử một quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam 'độc lập' này. Nói chung là tâm trạng của đại đa số nhân dân Việt Nam đều vui mừng, vì đất nước độc lập và không màng đến vấn đề ý thức hệ quốc gia hay cộng sản vào lúc đó. Mọi người đã tham gia bằng tấm lòng yêu nước.

Điều trớ trêu là Hồ Chí Minh và ban lãnh đạo Việt Minh, ngoài bề mặt thì nói đoàn kết, hợp tác với các đảng phái, hầu xây dựng một chính quyền vững mạnh; nhưng ở bên trong họ tìm cách tiêu diệt các lực lượng quốc gia để khống chế mọi mặt với âm mưu là xây dựng chế độ cộng sản trên toàn vùng Đông Dương theo lệnh của Liên Xô. Không những thế, họ lại đi đêm với Pháp để rước Pháp trở lại miền Bắc qua Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1046, rồi chính họ mượn tay người Pháp tiêu diệt các đảng phái quốc gia, hầu dễ dàng trong việc thao túng tình hình. Nhưng Cộng sản Việt Nam đã không khai thác được gì khi đưa người Pháp trở lại Miền Bắc, và nhất là nhìn thấy tham vọng của Pháp trong việc muốn tái chiếm Đông Dương sau Thế Chiến Thứ Hai, nên Hồ Chí Minh và ban lãnh đạo Việt Minh mới bày ra cuộc 'toàn quốc kháng chiến' chống Pháp, mà thực tế là để chống trả lại sự lật lọng của người Pháp. Cho nên ngày 19 tháng 12 năm 1946, trên nguyên tắc không phải là ngày mà người dân Việt chủ động tiến hành cuộc chiến chống Pháp giành độc lập, mà chỉ là ngày đánh dấu hàng loạt bi kịch của dân tộc do sự tham lam và u mê của Hồ Chí Minh và ban lãnh đạo Việt Minh, khi hô hào cuộc kháng chiến này.

Thật vậy, nếu từ tháng 9 năm 1945 sau khi đã nắm chính quyền trong tay, những người cộng sản và người quốc gia hợp tác chặt chẽ để vừa kiến tạo đất nước, vừa nói chuyện với Pháp hầu giành lại đôc lập, thì đã không có những thảm kịch kéo dài trong 60 năm qua. Nhìn các quốc gia có cùng cảnh ngộ bị thực dân đô hộ như Mã Lai, Thái Lan, Nam Dương, Phi Luật Tân... tất cả đã lấy lại độc lập mà không tốn một giọt máu nào; trong khi chính cái ngày toàn quốc kháng chiến do Hồ Chí Minh và Việt Minh phát động này mà dân ta cho đến bây giờ vẫn chưa đủ cơm no áo mặc và nhân quyền bị đảng Cộng sản Việt Nam chà đạp một cách trắng trợn. Chính ngày toàn quốc kháng chiến này đã để lại không biết bao nhiêu là bi kịch cho đất nước và dân tộc Việt Nam.

Bi kịch thứ nhất là trong 9 năm kháng chiến chống Pháp một cách vô ích này đã làm cho hàng triệu gia đình ly tán, chết chóc và sinh lực quốc gia tiếp tục bị hao mòn.

Bi kịch thứ hai là hậu quả phân chia đất nước vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, khi Việt Minh nghe theo lời của Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa ký với Pháp hiệp định Genève để chia đôi Việt Nam. Cái tai hại của chia đôi đất nước không chỉ biểu hiện trên mặt vật chất, mà còn ghi sâu đậm trong lòng người dân mà cho đến ngày hôm nay qua nhiều thế hệ vẫn chưa xóa nhòa được.

Bi kịch thứ ba là cuộc chiến giải phóng miền Nam nghèo đói của đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 đã không chỉ tàn phá sinh lực đất nước, mà còn đẩy dân tộc vào chỗ kiệt quệ toàn diện sau 20 năm tiến hành cuộc chiến phi lý này tại miền Nam.

Bi kịch thứ tư là sự ngạo mạn của đảng Cộng sản Việt Nam sau khi chiếm miền Nam Việt Nam đã đưa đất nước vào thế bị thế giới cô lập ngoại giao và phong tỏa kinh tế, khi tiến hành việc xây dựng liên bang Đông Dương sau năm 1975. Hậu quả của bi kịch này là dân tộc và đất nước Việt Nam hoàn toàn bị phá sản.

Hậu quả của những bi kịch này thật không bút mực nào tả xiết. Nhưng, nếu chúng ta nhìn lại hiện tình đất nước và mức sống của người dân sau hai mươi năm gọi là đổi mới và mở cửa của đảng Cộng sản Việt Nam, đủ thấy là những trì lực của các bi kịch này quá lớn, đến nỗi một dân tộc cần cù, siêng năng như Việt Nam đã không thể nào khắc phục. Đương nhiên dù có khắc phục được chút nào đi nữa, thì dưới chế độ cai trị độc tài độc đảng, người dân sẽ không bao có một đời sống tự do, hạnh phúc như các quốc gia láng giềng cùng cảnh ngộ cách nay 60 năm, nay đã cất cánh. Có nhìn ra bề trái của những tuyên truyền khoác lác về ngày Toàn Quốc Kháng Chiến cách nay 60 năm ta mới thấy rõ Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam đã có tội rất lớn đối với quốc gia và dân tộc. Không thể nào đem cái công thắng Pháp, hay thắng Mỹ, trong những cuộc chiến do chính mình phát động một cách vô lý để che dấu những hành vi sai lầm cách đây 60 năm. Nếu không có ngày toàn quốc kháng chiến 19 tháng 12 năm 1946, biết đâu dân tộc ta đã có một tương lai khác, tốt đẹp hơn như những quốc gia láng giềng đã may mắn có được. Nếu như người Cộng sản không rước người Pháp trở lại miền Bắc qua Hiệp định sơ bộ 6/3, và không gian manh tiêu diệt những đảng phái quốc gia để độc chiếm quyền lực trên đất nước thì Việt Nam trong 60 năm qua đã có một lịch sử oai hùng và vinh quang hơn là điều mà đảng Cộng sản Việt Nam đang thêu dệt.

Ngày toàn quốc kháng chiến là một vết nhơ của lịch sử cận đại.

Dec 19 2006

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.