Hôm nay,  

Sự lãng quên

10/11/202300:00:00(Xem: 3697)
su lang quen
 
Tuy lịch sử không nói đến, nhưng nếu chịu khó lục lọi đây đó, người ta sẽ tìm ra một giai thoại khá thú vị về việc bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam được Hồ Chí Minh soạn thảo và đọc trong buổi lễ trước công chúng tại vườn hoa Ba Đình (nay là Quảng trường Ba Đình) ngày 2 tháng 9 năm 1945. Theo tường thuật của nhà báo Hồng Hà trên báo Cứu Quốc của Việt Minh, ông Nguyễn Hữu Đang là người đọc chương trình buổi lễ và giới thiệu Chính phủ Lâm thời cùng chủ tịch Chính phủ đọc Tuyên ngôn Độc lập. Ông Nguyễn Hữu Đang là Trưởng ban Tổ chức Lễ đài, ông chính là người đứng trước micro giới thiệu: “Thưa đồng bào... Đây là Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh.” Nói xong, ông lùi lại, nhường micro cho Hồ Chí Minh.
    Bức ảnh chụp ông Hồ đọc bản tuyên ngôn có Nguyễn Hữu Đang đứng ngay sau lưng. Có lẽ đó là bức ảnh được truyền bá sâu rộng nhất trong nước vào thời điểm đó, trên báo chí cho quần chúng đọc, trên sách vở cho học sinh, sinh viên học hành, trên tài liệu cho cán bộ, quân nhân học tập, v.v… Nhưng, hơn mười năm sau đó, sau khi ông Nguyễn Hữu Đang và nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm bị đảng trù giập không thương tiếc, bản thân ông bị tống cổ vào tù, thì hình ảnh ông đứng sau lưng Hồ Chí Minh bị tẩy xóa (rất tinh vi). Từ lúc đó trở về sau, bức ảnh Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập không có Nguyễn Hữu Đang.
    Cũng vào quãng thời gian này, một chuyện tương tự xảy ra bên trời Tây, sau Đệ nhị Thế chiến, chính xác là tại Tiệp Khắc, một quốc gia phiên thuộc của đế quốc Xô Viết. Chuyện này được nhà văn Milan Kundera [1929-2023] thuật lại trong cuốn tiểu thuyết Tập sách cái cười và sự lãng quên của ông, một tác phẩm quan trọng đã đưa tên tuổi ông lên hàng nhà văn tầm vóc quốc tế vào cuối thế kỷ XX. Ông viết như nhau:
    “Tháng Hai năm 1948, lãnh tụ Cộng sản Klement Gottwald bước ra bao lơn tòa dinh thự xây từ thời Baroque thủ đô Praha để hiệu triệu hàng trăm nghìn công dân đứng chật ních dưới quảng trường Phố Cổ. Đó là khúc quành trọng đại của lịch sử Bohemia – một thời khắc định mệnh.
    Đứng cạnh Gottwald là các đồng chí của ông, Clementis gần nhất, ngay bên cạnh. Tuyết rơi tầm tã, trời se sắt lạnh, và Gottwald để đầu trần. Thấy vậy Clementis ân cần lấy mũ của mình đội lên đầu Gottwald.
    Cơ quan tuyên truyền của đảng in ra hàng trăm nghìn bức ảnh Gottwald đứng trên bao lơn, mũ lông thú trên đầu, các đồng chí đứng bên cạnh, nói chuyện với quốc dân. Lịch sử xứ Bohemia Cộng sản khởi đi từ cái bao lơn đó. Qua bích chương, sách vở, bảo tàng viện, đứa trẻ nào cũng biết rõ bức ảnh.
    Bốn năm sau họ khép Clementis vào tội phản quốc và đem ông ra treo cổ. Ngay tức khắc cơ quan tuyên truyền của đảng bôi xóa ông khỏi lịch sử và, dĩ nhiên, ra khỏi tất cả những hình ảnh họ công bố trước đây. Từ lúc đó trở đi, Gottwald đứng một mình trên bao lơn.
    Nơi Clementis đứng giờ đây chỉ còn lại bức tường trơ trọi của tòa dinh thự. Clementis hoàn toàn tan biến, chẳng còn lại gì, ngoại trừ cái mũ lông thú trên đầu Gottwald.”
   Đảng Cộng sản Việt Nam xóa ảnh Nguyễn Hữu Đang đứng sau lưng Hồ Chí Minh, họ còn xóa những hình ảnh kinh hoàng của biến cố Tết Mậu Thân 1968 thảm khốc ra khỏi lịch sử. Trong chiến tranh, quân lính hai bên chém giết nhau là chuyện có thể chấp nhận, con người từ lâu vốn tự đặt ra quy luật bất thành văn như thế, nhưng giết người già, em bé vô tội – không phải một vài người mà hàng ngàn người – không chút vũ khí tự vệ trong tay là tội ác chiến tranh, là sát nhân. Biết như thế, người Cộng sản Việt Nam bằng mọi giá, mọi cách, phải xóa bức ảnh thảm đát, ghê rợn đó ra khỏi lịch sử.
 
***
 
Nguyễn Hữu Đang của Việt Nam và Clementis của Tiệp Khắc, nạn nhân Mậu Thân 1968, bây giờ chỉ còn là những bóng ma, bóng ma quá khứ. Chỉ bóng ma mới có thể hiện ra và tan biến không để lại hình tích gì trên một bức ảnh, và bởi vì là bóng ma nên nó chỉ làm được một việc duy nhất là hù dọa trẻ nít và những kẻ yếu bóng vía. Nó chẳng làm được gì cho lịch sử. Lịch sử gạt nó ra ngoài lề, nếu ta hiểu lịch sử đồng nghĩa với quyền lực.
   Những bóng ma ấy, và vô vàn những bóng ma khác, sẽ dần dà trôi vào miền quên lãng. Sự hiện hữu của chúng là một nghi vấn, và trí óc con người luôn luôn sẵn sàng biến nghi vấn thành sự lãng quên.
    Sự lãng quên có ý nghĩa về mặt nhận thức, vì nó liên quan đến những gì chúng ta có thể biết và cách thế chúng ta biện minh cho niềm tin của mình. Nó cũng có thể liên quan đến chủ nghĩa hoài nghi trong triết học, đặc biệt trong ngữ cảnh của chủ nghĩa hoài nghi thế giới ngoại tại. Nếu chúng ta quên đi những trải nghiệm hoặc tri thức nhận thức trước đây, điều đó có thể đặt ra câu hỏi về độ tin cậy của các giác quan và khả năng nhận thức thế giới bên ngoài. Triết gia Friedrich Nietzsche có một quan điểm thú vị về sự lãng quên. Ông lập luận rằng quên không chỉ là sự suy giảm trí nhớ mà là một khía cạnh cần thiết của ý chí quyền lực và sự tự khẳng định. Ông tin rằng các cá nhân cần quên đi những trải nghiệm và giá trị trong quá khứ để tạo ra những cái mới và khẳng định bản sắc riêng của mình. Khái niệm về sự lãng quên cũng có thể liên quan đến bản sắc cá nhân trong bối cảnh triết lý của tâm trí. Câu hỏi liệu cùng một người có thể tồn tại xuyên thời gian dù đã quên nhiều trải nghiệm trong quá khứ hay không, vẫn là chủ đề tranh luận. Các triết gia theo Chủ nghĩa Hiện sinh như Jean-Paul Sartre thì đưa ra khám phá về ý tưởng quên trong bối cảnh tự do và trách nhiệm. Trong bối cảnh này, sự lãng quên có thể được xem là cách thế để vượt thoát khỏi gánh nặng của quá khứ và tạo ra sự tồn tại (hiện hữu, hiện tồn, hiện sinh, hữu thể) của chính mình. Còn ông triết gia José Ortéga Y Gassett thì không ngần ngại nói thẳng thừng một cách rất ư là bình dân dễ hiểu, “Quá khứ và tương lai không thể là cuộc chiến đấu tay đôi. Tương lai phải nuốt chửng quá khứ, nuốt hết, không để sót lại gì thì mới khỏi thua trận.”
    Xem ra sự lãng quên là một thuộc tính tất yếu của con người mà không phải ai cũng có thể khắc phục hoặc chế ngự. Con người vốn chóng quên. Trong một thế giới bão hòa với thông tin và dữ kiện như cuộc sống ngày nay, sự chóng quên lại là một yếu tố cần thiết để thích ứng với các điều kiện nội tại cũng như ngoại tại, như triết gia John Locke từng lập luận rằng khả năng quên là điều cần thiết để duy trì bản sắc cá nhân của một con người theo thời gian, bởi nếu không quên, tâm trí chúng ta sẽ tràn ngập những thông tin không liên quan và lỗi thời.
    Những vụ thảm sát do chiến tranh gây nên đánh động tâm tư chúng ta, nhưng thử hỏi ngày nay ai còn nhớ đến Mậu Thân 1968, ai còn nhớ đến Kosovo, đến Iraq. Tôi dám cược bất cứ cái gì là chỉ trong vòng vài năm nữa, khi ngọn lửa chiến tranh tàn lụi, sẽ chẳng còn ai nhớ đến Ukraine, đến Palestine nữa. Hình ảnh thảm khốc những đứa bé chết cháy thành than sẽ lùi vào quên lãng.
    Thương nữ bất tri vong quốc hận, Cách giang do xướng hậu đình hoa.
    Thi hào Đỗ Mục từ thời Vãn Đường, thế kỷ IX, đã ngậm ngùi than thở như thế. Vâng, chẳng phải bây giờ người ta mới chóng quên.
    Đối với các thế lực cực quyền, đây chính là điểm yếu của con người mà họ khai thác tới hạn để che đậy những tội ác do chính họ gây ra. Họ sử dụng nó như một công cụ bài bản để sửa đổi lịch sử sao cho phù hợp với quan điểm giáo điều và chính thống của họ. Tất cả những gì không đi theo đường lối, chủ trương của họ hoặc bất lợi cho họ về mặt tuyên truyền, họ không ngần ngại cho vào bóng tối, phủ nhận, lấp liếm, đổ thừa, cho dù những hành vi đó phi lý, vô lý đến đâu chăng nữa. Bạn đừng phí công phí sức chất vấn hay tranh luận về sự không hợp tình hợp lý, không tôn trọng sự thật của họ. Chỉ vô ích thôi bởi bạn đang nói chuyện với một cục đất ù lì. Trong bóng tối, sự vật trở nên mù mờ, xập xoạng như những bóng ma – những bóng ma Nguyễn Hữu Đang, Clementis và hàng trăm hàng ngàn bóng ma khác – không một chút trọng lượng, chẳng mảy may tác động lên bất cứ sự việc nào, và chỉ thoi thóp lóe lên trong giây phút phù du của lòng hoài niệm.
    Có lẽ bởi thế Kundera đã phải chua xót nói rằng: “Cuộc đấu tranh của con người chống lại quyền lực là cuộc đấu tranh của trí nhớ chống lại sự lãng quên.”
    Sự lãng quên sẽ ở với con người mãi mãi. Vĩnh viễn chúng ta bị đóng đinh vào sự lãng quên. Nó giúp cái Ác lên ngôi, và sự cứu chuộc vẫn nằm im không nhúc nhích bên trong lớp vỏ hy vọng mong manh của những kẻ khao khát Sự thật nhưng chẳng bao giờ tìm thấy.
 
– Trịnh Y Thư

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi đến thăm nhà sách Tú Quỳnh từ sáng sớm thứ Bảy 18 tháng 10, 2020, cốt để nhìn lại một nơi chốn thân quen của người Việt tị nạn ở Quận Cam, trước khi nó đóng cửa vĩnh viễn. Cơn lốc đại dịch Covid 19 chưa qua mà hậu quả thảm hại đã giáng xuống khắp nơi từ nhân mạng tới tài chánh và bao nhiêu món ăn tinh thần cũng theo đó mà ra đi.
Nhân khi đọc bài Thành Tựu Niết bàn của Cư sỹ Nguyên giác Phan Tấn Hải, chúng tôi xin phép kết hợp với thuyết big bang của Stephen Hawking và tiến trình giác ngộ của Đức Phật, và sự sống và chết theo Phật giáo để luận bàn về Niết bàn, giải đáp thắc mắc đức Phật chết rồi đi về đâu? Đây chỉ là khởi niệm mới lạ, biết đâu tương lai sẽ có người chứng minh được.
Phiên toà xử người dân Đồng Tâm cùng cái án tử hình, chung thân dành cho con cháu cụ Kình đã phủ xuống tâm trạng u ám cho tất cả chúng ta. Nhưng sự việc không dừng ở đó, công an đã bắt giam nhà báo Phạm Đoan Trang, đồng tác giả của ấn bản “Báo Cáo Đồng Tâm”.
Ông mô tả mình là một người chủ trương “tôn trọng sự sống – (pro-life),” ủng hộ Tu chính án số 2 (quyền sở hữu vũ khí,) cổ võ một bộ máy chính quyền nhỏ, một kế hoạch quốc phòng mạnh mẽ, và là một người bảo thủ tôn trọng quốc ca” đã nói là hiện nay nước Mỹ không còn là một quốc gia dân chủ gương mẫu, và rằng “chúng ta cần phải có một Tổng Thống cho tất cả mọi người Mỹ, chứ không phải chỉ cho một nửa nước Mỹ.”
Nước. Nước từ đâu cứ dâng lên; lên rồi rút, rút rồi lại lên, ngập tràn đồng ruộng, ao hồ, vườn tược, làng quê, và phố thị của nhiều tỉnh thành miền Trung. Cuồng phong bão tố từ đại dương cuộn xoáy vào đất liền, kéo theo những cơn mưa xối xả ngày đêm.
Vấn đề không phải là để truy thù hay báo oán. Truyền thống văn hoá bao dung dân tộc Việt không cho phép bất cứ ai thực hiện điều đó. Tuy nhiên, quá khứ cần phải được thanh thoả – và không thể thanh thỏa bằng một (hay vài) cuốn truyện– để chúng ta đều cảm thấy được nhẹ lòng, và an tâm hơn khi hướng đến tương lai.
Làm thương mại, nhất là làm trong nghề buôn bán nhà cửa, muốn mọi người thương mình rất khó. Chín người thương mình cũng có một người ghét mình. Ăn ở cho mọi người thương mình chỉ có chân thành mới làm được.
Rừng điêu tàn thì đất nước suy vong; đây mới chính là cội rễ của vấn đề.bChúng ta cứu giúp đồng bào bị nạn nhưng chính chúng ta có ai nghĩ đến cội nguồn của vấn đề là nạn phá rừng cưa gỗ tàn phá đất nước. Tác động tới môi trường, phá rừng vẫn đang tiếp diễn và đang làm thay đổi khí hậu và địa lý.
Trưa ngày 16/10/2020, một thanh niên người Tchétchène, tên Abdoullakh Anzarov, đã cắt cổ Thầy giáo Sử Địa, ông Samuel Paty, ngay trước trường Trung học Le Bois d'Aulne nơi ông đang dạy, ở Thành phố Conflans-Sainte-Honorine, ngoại ô Tây-Bắc cách Paris chừng 40km Paris.
Tôi rất hãnh diện đã ủng hộ đạo luật lịch sử, mang 130,000 người tị nạn đầu tiên từ các nước Việt Nam, Lào, và Campuchia đến Hoa Kỳ vào năm 1975 và đã thông qua nghị quyết chào đón họ. Tôi đã bỏ phiếu chấp thuận gia tăng ngân quỹ để giúp những người Việt mới đến định cư và sau này tôi đã đồng bảo trợ cho đạo luật dẫn đến sự hình thành của hệ thống di trú theo quy chế tị nạn hiện hành. Tinh thần cứu giúp người tị nạn, chào đón họ đến với tự do sau khi trốn thoát chế độ đàn áp, là giá trị nền tảng của chúng ta và của Hoa Kỳ. Cũng do giá trị đó mà nước Mỹ trở thành biểu tượng của tự do và hy vọng, dẫn đầu thế giới không chỉ bằng sức mạnh của một cường quốc mà bằng hành động cụ thể làm gương cho thế giới. Trong vai trò tổng thống, tôi cam kết sẽ giữ cho nước Mỹ là quốc gia luôn chào đón người tỵ nạn và di dân, và chúng ta ghi nhận sức mạnh phi thường của Hoa Kỳ đến từ xã hội đa dạng và đa sắc tộc của chúng ta.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.