Hôm nay,  

Xin lỗi Đức Phật

17/03/202321:02:00(Xem: 5408)

phat image 1

Mấy nay thiên hạ lùm xùm um cả lên, người trong đạo kẻ ngoài đời không tiếc lời tranh cãi, mạ lị, ngụy biện… Con thấy rất buồn cười nhưng không tiện xía vào và cũng chẳng biết bày tỏ tâm sự với ai. Nay con mượn chút chữ nghĩa bộc bạch nỗi lòng cùng với đức Phật, trước hết con xin lỗi đức Phật vì những chuyện vô minh xảy ra trong đạo pháp, thứ nữa con cũng xin lỗi cho những hý luận của người đời.

 

Vào sâu đời mạt pháp, pháp bị bẻ cong, bị gán ép bậy bạ tỷ như: “Đạo pháp và XHCN” của nhóm hồng tăng tà sư đã và đang làm. Đời mạt pháp, những vị sư chân chính đáng kính trọng bị cô lập, bị quấy nhiễu, bị ngăn cản hành đạo. Đời mạt pháp, pháp Phật bị đánh tráo, bị trộn chung với những trò ma mị mê muội của thế gian, tỷ như: lên đồng, cầu cơ, trục vong, giải hạn, phong thủy, bói toán, du lịch tâm linh… Đời mạt pháp, vô minh tăng cấu kết với quan quyền, thế lực chính trị để làm chỗ dựa, lấy việc kết thân với nhà giàu, quan chức làm vinh hạnh, toàn những việc không sao hiểu nổi hay chấp nhận được, càng nói càng đau lòng. Đúng như năm xưa đức Phật huyền ký: “Sư tử trùng thực sư tử nhục”. Thưa Thế Tôn, con sư tử hùng mạnh, oai dõng khi nó hống lên thì lũ chồn, cáo, chim, chuột... phải im hơi lặng tiếng, không một con vật nào dám hại nó, ấy vậy mà nó lại bị tổn thương vì những con vi trùng trong thân nó. Những loài trùng độc gặm nhấm, đục khoét thân thể nó. Sư tử không chết vì bên ngoài, sư tử chết vì bên trong, vì sư tử trùng. Cái trò gắn đuôi: “Đạo pháp và XHCN” chẳng khác nào đem con chuột nhắt buộc vào đuôi con sư tử, cái ý đồ mượn oai sư tử để khiển dụng các loài khác nhưng tiếc thay sư tử là sư tử, chuột là chuột đâu có ai lầm lẫn được! Đời mạt pháp ma tăng làm thế chẳng khác nào sư tử trùng đang phàm thực sư tử nhục.

 

Thưa Thế Tôn, chúng con chỉ là hạng Phật tử sơ cơ, nhìn thấy sự việc như thế thì đau lòng nhưng không biết làm gì hơn vì chúng con vốn đức bạc, tài sơ, trí thô, huệ cạn, lại còn thiếu vô úy… Nên chúng con chỉ còn biết đê đầu sám hỗi và xin lỗi đức Phật mà thôi!

 

Người tộc Viêt hay tộc Hán bấy nay sống với vô thần đã lâu, tiêm nhiễm thói ngạo mạn, tự đại trong khi bản tánh thì lại vô minh, vô tri... vì thế mà họ sống, nói năng và hành động rất liều, rất vị kỷ. Những việc mà nhóm hồng tăng tà sư làm quấy khiến cho họ ra sức cười chê, châm chọc, mỉa mai đạo pháp. Họ vơ đũa cả nắm, họ đang tạo nghiệp xấu cả thân lẫn miệng và ý, đáng tiếc làm sao!

 

Thưa Thế Tôn, nếu năm xưa Ngô triều dùng bạo lực đàn áp, tấn công trực tiếp vào đạo cả, việc này đã tổn thương nặng nề, máu chảy thịt rơi, lửa cháy… Nhưng cũng chính sự tàn bạo đã khiến bốn chúng gác lại dị biệt bất đồng để cùng đứng lên tranh đấu, vì thế mà đạo pháp sang một trang sử mới với sự đoàn kết thống nhất thành công lớn. Ngày nay thì lại khác, cũng lực lượng vô minh nhưng nham hiểm và thâm độc hơn. Người ta dùng ma tăng hồng sư để phá hoại đạo pháp từ trong ra, dùng chính những hồng tăng như sư tử trùng, cấy trùng độc vào thân sư tử, hòng biến sư tử thành vật lệ thuộc để sử dụng, dùng sư tử phục vụ cho mục đích cai trị của mình.

 

Xin lỗi Thế Tôn, đây là sự thật đã và đang xảy ra, đã và đang gây tác hại nặng nề. Chánh pháp bị phá hoại, bị xuyên tạc. Niềm tin và bồ đề tâm của hàng Phật tử sơ cơ bị lung lay, bị thối lui. Pháp Phật cũng như mọi pháp khác của thế gian này, không thể tránh khỏi thịnh suy, có lúc lên có lúc xuống. Chúng con vô phước sanh vào thời mạt pháp, sống vào buổi pháp đang mạt, đang bị phá hoại. Chúng con vẫn nhớ lời di giáo của đức Phật: “Lấy giáo giới làm thầy, lấy sự thật làm ngọn đèn...” Ngày nay vì hàng tứ chúng tùy tiện diễn dịch để biện minh cho việc phá giới và vì thế mà đạo pháp suy vi. Ngày nay người ta chỉ chăm chú mỗi việc xây chùa to Phật lớn khắp nơi mà không chịu xây đức dựng người. Chùa to Phật lớn nhan nhản tràn lan ấy vậy mà tìm một vị thầy có pháp học pháp hành, nói và làm đúng chánh pháp thì tìm không dễ, quả thật rất hiếm hoi. Những hồng tăng tà sư chìm đắm trong danh văn lợi dưỡng, thích kết giao quan gia, phò thế tục đăng đàn nói nhảm, nói xàm, nói bừa để làm vui lòng thế lực chính trị vô minh, những thế lực thừa ác thiếu thiện, nhiều sân si ít tỉnh giác, tràn đầy tham lam trống hoác lương tri… hàng Phật tử sơ cơ ngu muội cũng theo những vị hồng tăng dâng cúng tiền bạc của cải, tin theo lời ma mị trục vong trừ tà … để rồi tiền mất tật mang và quan trọng hơn là chịu chung cái nghiệp xấu với tà sư.

 

Thưa đức thế Tôn, ngày xưa khất thực là sự sống còn để nuôi thân mạng mà tu hành. Khất thực để buông bỏ cái tôi, cái bản ngã. Khất thực để không tham đắm vật chất, không dính mắc vào lục trần, để không phải tích trữ vật thực hay của cải. Khất thực để cho người dân gieo phước...Khất thực là một pháp hành quan trọng và hữu hiệu trong việc thúc liễm thân tâm, thực hành tứ oai nghi cũng như thực hành chánh pháp. Ngày nay mọi sự đã khác, hòan cảnh và quốc độ đều khác, việc khất thực không còn như xưa vì ngày nay chùa chiền vật thực chất đầy kho, ăn ngày ba bữa còn ăn thêm, ăn dặm, ăn tối, ăn vặt… ăn bất cứ thời giờ nào. Việc khất thực ngày nay (nhất là các chùa bắc tông) chỉ là sự phù diễn tắc trách, sự phô bày thô. Bát khất thực ngày xưa chỉ lấy đủ thức ăn cho một bữa và không phân biệt món gì. Ngày nay bát khất thực chẳng đựng thức ăn, chỉ toàn là kẹo bánh và đồ ăn vặt như snack, chip và tiền lẻ. Mỗi vị đi khất thực còn được bố trí thêm một người mang theo cái túi đi bên cạnh để khi bát đầy thì trút vào túi cho thầy. Việc khất thực ngày nay trông thật nhếch nhác và phản cảm. Khất thực kiểu này chỉ tăng thêm ngã mạn vì được Phật tử cung kính cúng dường vừa ràng buộc dính mắc và tham đắm vì phần vật cúng dường của mình. Phật tử sơ cơ không biết đã đành, nhiều chùa lại khuyến khích như thế, những vị mặc cà sa dửng dưng chấp nhận hay bằng lòng chấp nhận như thế thì quả thật đúng là mạt pháp.

 

Thưa đức Thế Tôn, con vẫn biết không nên nói lỗi người, không nên chê trách người mà hãy nhìn lỗi mình. Tuy nhiên sống trong một cộng đồng thì mình không thể làm ngơ hay im lặng đồng lõa với cái sai. Đời cũng có câu danh ngôn: “Không phải cái xấu cái ác mạnh mà là vì sự yếu hèn của những người im lặng”. Sự im lặng đồng lõa khác với sự im lặng sấm sét của Thế Tôn và những bậc thánh giả.

 

Thưa Thế Tôn, Chúng con lên tiếng vì không muốn đồng lõa với cái sai, cái xấu. Lên tiếng không phải vì hý luận hay chê bai. Chúng con lên tiếng hy vọng được nghe và chấn tác, sửa lại những cái bất cập. Học phải hành, pháp không phải để nói huyền nói diệu, pháp phải áp dụng vào ngay trong cuộc sống. Bát chánh đạo là pháp căn bản, là con đường trung đạo, con đường chuyển phàm thành thánh. Bát chánh đạo là căn bản dù cho có tu theo bất cứ pháp môn nào hay dòng truyền thừa nào. Bát chánh đạo không dành riêng cho một ai mà là cho tất cả. Học và phải hành, với những việc làm và lời nói sai trái của hồng tăng tà sư thì mình phải dùng chánh kiến để biện biệt để không hùa theo sự sai vạy. Mình phải dùng chánh ngữ để nói năng, không nói năng bậy theo họ. Mình tinh tấn tu học đúng chánh pháp chứ không theo sự tà vạy nghiệng lệch, nếu theo tà sư mà cố gắng tu thì đó là tà tinh tấn. Nếu như tu sĩ trong đạo có phép mặc tẩn thì mình ngoài đời phải rời bỏ những hồng tăng ma sư ấy. Mình dấn thân, tự cất bước và theo học những minh sư, những vị thầy giữ đúng chánh pháp, cúng dường đúng không cúng dường để phục vụ cái bản ngã ích kỷ của những cá nhân đang phá pháp.  Trong thời buổi này thì càng phải vận dụng chánh tư duy để biết chánh pháp và tà pháp. Chính những lúc này mới thấy được sự áp dụng pháp học và pháp hành trong đời quan trọng như thế nào. Chúng con vẫn nghe và biết học Phật không phải để trở thành gỗ đá vô tri, vô cảm. Học Phật để tự sửa mình, giúp người, giúp đời. Học Phật không phải là học lý thuyết suông mà phải áp dụng vào ngay trong cuộc sống hàng ngày. Nhà Phật vẫn xem hành mới là quan trọng chứ không phải nói suông. Với hàng Phật tử sơ cơ như chúng con thì giữ ở mức độ không sát, đạo, dâm, vọng, tửu là tốt rồi; tuy nhiên một cách tương đối chứ bảo tuyệt đối thì không thể! Ở đời chẳng có gì tuyệt đối vì đời vốn là tục đế và đối đãi. Người đời thường hiểu một cách máy móc, chấp chặt vào danh tự cho nên có không ít người cứng nhắc tỷ như: “uống rượu thuốc trị bệnh có phạm giới chăng? Bạn bè gặp nhau làm một ly cũng không dám, hoặc món ăn lỡ dính tí thịt thì cũng không ăn…”  Phật chế giới là để giúp người tu học tự mình giữ lấy thân mình, để không sa đà vào tham đắm dính mắc hoặc đam mê. Giới như cái hàng rào ngăn chặn để mình không sa ngã chứ không phải là cái nhà ngục để nhốt mình. Ngũ giới Phật chế ra cũng chính là căn bản đạo đức của mỗi con người. Con người dù có dán lên trán mình nhãn hiệu tôn giáo gì đi nữa cũng cần phải có cái đạo đức căn bản: không sát, đạo, dâm, vọng, tửu. Hầu hết các tôn giáo cũng khuyên và răn tín đồ của mình không được trộm cắp, uống rượu, tà dâm, nói dối, giết chóc...Nếu tất cả mọi người trên thế gian này đều giữ năm giới thì thế giới này sẽ không có giết chóc; không có trộm cắp cướp giật; không có rối loạn vì dâm; không có bất an vì dối trá, lường gạt; không có say xỉn làm bậy nói càn… và như thế thì thế gian này sẽ trở thành thiên đàng, tịnh độ ngay trên mặt đất.

 

Thưa đức Thế Tôn, Rất tiếc là chúng con bây giờ vẫn học nhưng chưa hành, hoặc giả có hành nhưng chưa được bao nhiêu, khoảng cách giữa học và hành còn rất xa . Pháp Phật là chân lý, là sự thật nhưng chúng con chưa kham nổi, vào sâu đời mạt pháp, pháp bị thao túng, bị bóp méo và thêm thoắt để phục vụ cho thế lục chính trị vô minh. Việc này ảnh hưởng xấu đến đạo cả, làm thối thất bồ đề tâm của không ít người, làm xói mòn niềm tin của những người vốn dĩ đã lười tu học và khiến cho họ có cớ để giải đãi biện minh cho việc buông lung.

 

Xin lỗi đức Phật!

 

Con đê đầu sám hối những lỗi lầm của bản thân, con thật sự không muốn nói hay viết về những việc xấu hoại đạo phá pháp như thế này, tiếc thay sự việc càng ngày càng tệ, thiên hạ um sùm cả lên. Người trong đạo kẻ ngoài đời bàn tán nói ra nói vào, đàm tiếu lung tung nhưng không nhìn thấu được bản chất của vấn đề vì thế mà đánh đồng tất cả đều là hồng tăng tà sư. Người ngoại đạo thừa dịp cười chê phỉ báng vì thế con mới mạo muội viết ra những dòng chữ này. Chúng con xin lỗi đức Phât. Chúng con đê đầu sám hối những tội lỗi của mình. Chúng con vẫn vững niềm tin ở Thế Tôn, vẫn kính ngưỡng ba đời mười phương Phật, vẫn hành trì theo chánh pháp và con đường giải thoát mà Thế Tôn đã khai sáng.

Sư tử trùng phàm thực sư tử nhục, sử thế gian cũng như sử Phật đều trải qua nhiều thăng trầm biến động, quy luật tự nhiên là thế, thịnh suy liên lỉ… Vì vậy chúng con tin tưởng đạo pháp rồi cũng sẽ vượt qua. Những con vi trùng kia có thể gây hại một lúc nào đó chứ không thể hoại diệt được Phật pháp. Phật pháp ở thế gian này còn dài lâu, tất nhiên cũng sẽ có lúc bị diệt (khi có một vị Phật mới ra đời) nhưng cái thời gian ấy còn xa lắm, có dùng con số thiên văn cũng không sao tính toán hay hình dung được. Khả năng của hàng Phật tử sơ cơ cũng như của loài người ở thế gian này thì vô phương nhận biết hay tính toán. Thật đúng như lời Thế Tôn trong các kinh thường viết: “Hằng hà sa số, vô lượng, vô số, bất khả thuyết, bất khả lượng, bất khả tư nghị.”

 

Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 08/22)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
Cùng với tác phẩm của Dương Thu Hương-"Những Thiên Đường Mù", Trần Mạnh Hão-"Ly Thân", Bảo Ninh-"Nỗi buồn Chiến tranh", Phạm Thị Hoài-"Thiên sứ", "Tướng về hưu"của Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên dòng văn học phản kháng.
Và cũng có thể biết thêm rằng, nếu tổng thống Franklin Roosevelt từng ngồi xe lăn để lãnh đạo nước Mỹ suốt 12 năm và bảo vệ thế giới tự do, mang lại chiến thắng cho phe đồng minh trong Đệ Nhị Thế Chiến thì thể chất của tổng thống Joe Biden không phải là điều để người ta bàn luận nhiều như vậy.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.