Hôm nay,  

Kinh Tế Dễ Hiểu: Lịch Sử Kinh Tế Nước Mỹ (Chương 21)

10/11/202114:00:00(Xem: 5541)

ECONOMICS


Nền kinh tế nước Mỹ chia thành 4 giai đoạn dưới ảnh hưởng của 3 kinh tế gia lổi lạc:


  1. Lập quốc cho đến thập niên 1929: bàn tay vô hình điều hướng thị trường tự do theo Adam Smith

  2. Thập niên 1930 cho đến 1980: bàn tay của nhà nước can thiệp vào thị trường theo John M. Keynes

  3. 1980-2007: thị trường tự do theo Adam Smith nhưng với Ngân Hàng Trung Ương (NHTƯ) quản lý chính sách tiền tệ theo Milton Friedman.

  4. 2007 cho đến: nhà nước can thiệp vào thị trường theo John M. Keynes cùng với NHTƯ quản lý chính sách tiền tệ theo Milton Friedman.


Cho dù Karl Marx không hiện diện mạnh ở Mỹ nhưng tư tưởng Marx ảnh hưởng đến xã hội và kinh tế của Hoa Kỳ từ cuối thế kỷ thứ 18 (giai đọan cực thịnh của nền tư bản Mỹ) cho đến 1929 (Đại Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu).


MỸ (1779-1929) VÀ ADAM SMITH (Luận Bàn về Của Cải Quốc Gia, 1779)


Nước Mỹ ra đời vào năm 1779 tức là cùng năm với quyển sách Luận Bàn về Của Cải của Các Quốc Gia (The Wealth Of Nations) của Adam Smith - người vốn được xem là ông tổ bộ môn kinh tế học. Smith cho rằng thị trường phải được vận hành tự do thì mọi người mới vì tư lợi mà hăng hái làm việc, tạo ra của cải và trao đổi hàng hóa khiến quốc gia trở nên thịnh vượng. Nhà nước chỉ có vai trò hạn hẹp để giữ trật tự (chống gian lận, đầu cơ, ăn cướp…) nhưng không can thiệp vào sự vận hành của thị trường tự do.  


Quan điểm về thị trường tự do và quyền tự do cá nhân của Adam Smith phù hợp với người di dân lập quốc ở Tân Thế Giới. Hoa Kỳ là mảnh đất của những kẻ trốn chạy nạn đàn áp ở châu Âu. Nước Mỹ lại vừa dành độc lập từ Vương Quốc Anh cho nên dân chúng Hoa Kỳ mang tinh thần tự lập đi khai phá những chân trời mới. Nhà nước dựng lên chỉ để bảo vệ an ninh lãnh thổ và thi hành luật pháp mà không được quấy nhiễu dân chúng tự do làm ăn. Bài nhạc nổi tiếng The Star-Spangled Banner với lời ca bất hủ “the land of the free and the home of the brave” (mảnh đất của tự do, mái nhà của những người can đảm) thể hiện tính tự hào và độc lập đó.


MỸ (1860-1929) VÀ KARL MARX (Tư Bản Luận, 1867)


Nền tư bản Âu-Mỹ tiến lên giai đoạn cực thịnh vào cuối thế kỷ 19 song song với hai trào lưu công nghiệp hóa và đô thị hóa.  Thời Đại Vàng Mã (Gilded Age) từ 1860-1896 ở Mỹ là giai đoạn giàu sang hào nhoáng bên cạnh các bất công sâu sắc cùng với khoảng cách giàu nghèo tăng vọt trong xã hội. Nước Mỹ có 24 ông Trùm (robber barons) trong các ngành dầu hỏa Rockefeller, đường sắt Standford, luyện kim Carnegie và tài chánh ngân hàng J.P. Morgan vừa chi phối nền kinh tế lại khuynh đảo quyền lực chính trị. 


Đây cũng chính là lúc Karl Marx cho ra đời quyễn Tư Bản Luận (1867) ở Âu Châu tố cáo giới chủ bóc lột thợ thuyền và kêu gọi cách mạng vô sản lật đổ chế độ tư bản.


Tiếp nối Thời Đại Vàng Mã là Kỷ Nguyên Cấp Tiến (Progressive Era, 1896-1920) trong đó nền báo chí tự do Hoa Kỳ (tên gọi Muckraker) phơi trần các cấu kết giữa giới tài phiệt và quan chức nhà nước nhằm thúc giục quần chúng tranh đấu đòi tổ chức công đoàn và cải tổ luật lao động. Năm 1922 Lenin thành lập Liên Bang Xô-Viết, nước Nga trở thành hình mẩu cho thiên đàng vô sản. Phong trào cộng sản quốc tế trổi lên thu hút giới cấp tiến và công nhân ở Mỹ. Cho dù Marx không hiện diện trực tiếp nhưng bóng dáng của Marx lảng vảng chi phối đến các cải cách kinh tế và lao động ở Mỹ trong giai đoạn này.


 


Sự ra đời của Liên Bang Xô-Viết (1922) và cuộc Đại Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu (1929) khiến chủ nghĩa cộng sản càng trở nên hấp dẫn thu hút giới công nhân thợ thuyền ở Mỹ. Ngược lại bên Âu Châu dân Đức uất ức với những điều kiện nghiệt ngã do phe thắng trận Anh-Pháp áp đặt trong Hoà Ước Versailles (1919); nạn lạm phát phi mã (1923) khiến nước Đức ngã theo Phát Xít rồi sau này đem đến Thế Chiến Thứ Hai. 


Chủ nghĩa tư bản có vẽ đang sụp đổ theo đúng như lời tiên tri của Marx-Lenin. Năm 1936 John M. Keynes cho ra đời quyển Lý Thuyết Tổng Quát về Công Ăn Việc Làm, Lãi Xuất và Tiền Tệ) lập luận rằng một khi nền tư bản không tự điều chỉnh được thì bàn tay hữu hình của nhà nước phải can thiệp để tạo công ăn việc làm nhằm ổn định nền kinh tế và tránh bạo loạn xã hội vốn sẽ dẫn đến cách mạng, độc tài, phát xít, cộng sản hay chiến tranh. Keynes chủ trương nhà nước dùng các biện pháp tài chánh (fiscal policy, gồm tăng chi ngân sách và giảm thuế) để kích cầu theo kiểu mồi xăng cho máy nổ thoát ra khủng hoảng.


Năm 1932 Tổng Thống Franklin D. Roosevelt đắc cử ở Mỹ với chương trình New Deal (1933-1939) gồm: 

  • nhà nước chi tiêu đầu tư xây cất hạ tầng nhằm tạo công ăn việc làm;

  • nhà nước xây dựng mạng lưới an sinh xã hội (safety net) để hổ trợ thất nghiệp và lương hưu trí;

  • nhà nước giám sát hệ thống ngân hàng (Glass-Steagall Act);

  • nhà nước cải tổ luật lao động và công đoàn;

  • nhà nước tăng thuế nhà giàu hổ trợ cho nhà nghèo.


Chi tiêu và vai trò của nhà nước tăng vọt. Mô hình kinh tế nước Mỹ biến đổi với bàn tay hữu hình của nhà nước can thiệp vào thị trường theo John M. Keynes. Phe chống đối cho rằng bàn tay nhà nước một khi đã thò dọc (government intervention) sẽ lạm quyền (government overreach) bóp méo thị trường tự do (market distortion) và xâm phạm đến quyền tự do cá nhân
, tức là con đường trá hình đi đến xã hội chủ nghĩa.


***


Sau Thế Chiến Thứ Hai nền kinh tế Mỹ đứng hàng đầu và chiếm 40% GDP toàn thế giới vào năm 1960. Tổng Thống Lyndon B. Johnson (đảng Dân Chủ) nhậm chức phát động Cuộc Chiến Chống Nghèo Đói (War Against Poverty, 1964) cùng lúc với nước Mỹ sa lầy vào chiến tranh Việt Nam.


Johnson mở rộng mạng lưới xã hội (safety net, cho thất nghiệp và hưu trí) thời Roosevelt trở thành chế độ nhà nước phúc lợi (welfare state, bao gồm trợ cấp nhà nghèo (welfare), trợ cấp nhà ở (housing), trợ cấp thực phẩm (food stamp), trợ cấp y tế (medicare).) Safety Net là trợ cấp lúc hoạn nạn; Welfare State là nhà nước bao cấp tạo ra sự ỷ lại, lười biếng và lạm dụng. Chế độ nhà nước bao cấp bị tố cáo là nhà nước lạm quyền dùng chiêu bài bình đẳng xã hội để thò tay can thiệp bóp nghẹt thị trường tự do và tiến lên xã hội chủ nghĩa.


MỸ (1980-2007) VÀ MILTON FRIEDMAN


Chiến tranh Việt Nam và Cuộc Chiến Chống Nghèo Đói vô cùng tốn kém khiến ngân sách nước Mỹ thâm thủng nặng nề. Đồng đô-la lúc đó đổi 35 USD ra 1 lượng vàng, các nước Âu Châu sợ Mỹ hết vàng đòi rút vàng về nước. Năm 1971 Tổng Thống Richard M. Nixon tuyên bố Mỹ “tạm” ngưng neo giá trị USD vào vàng (từ bỏ kim bảng vị). Nhà nước Hoa Kỳ từ đó được rộng tay in USD tiêu xài. Lượng tiền tăng nhanh, đến năm 1973 lại thêm gặp khủng hoảng dầu hỏa khiến giá cả nhảy vọt. Lạm phát lên đến 15% năm 1980 (so với 1.25% năm 2021.) 

  

Năm 1979 Thống Đốc Ngân Hàng Paul Vocker thắt chặt lượng tiền lưu hành bằng cách tăng lãi suất chỉ đạo lên 20% (so với 0.25% năm 2021) để kềm chế lạm phát. Tuy khuất phục được lạm phát nhưng giá đắt phải trả là nạn thất nghiệp 10% và kinh tế suy thoái 1980-1982.


Năm 1981 Tổng Thống Ronald Reagan nhậm chức với chủ trương cắt giảm vai trò của nhà nước để giải phóng sức mạnh hung hãn (animal spirit) của tư nhân và thị trường tự do không còn bị bóng dáng nhà nước che phủ. Reagan tuyên bố câu bất hủ “Government is not the solution to our problem, government is the problem” (Nhà nước không phải là lời giải đáp bởi vì nhà nước chính là gánh nặng.)


Chủ trương của John M. Keynes về bàn tay hữu hình của nhà nước can thiệp vào kinh tế mờ nhạt và bị thay thế bởi Milton Friedman. Friedman thuộc phe tự do cá nhân (libertarian) chống đối quyền lực của nhà nước đặt trên tự do cá nhân và chủ trương nhà nước không can thiệp vào thị trường tự do. Friedman lại khai triển lý thuyết tiền tệ (monetarism) cho rằng Ngân Hàng Trung Ương (NHTƯ) phải hổ trợ nền kinh tế bằng cách giám sát lãi xuất và lượng tiền lưu hành, kiểu như khi cổ xe kinh tế chạy chậm thì tài xế (NHTƯ) nhấn ga bơm xăng (bơm tiền và hạ lãi xuất) đến khi xe vọt ngon trớn lại buông ga bớt xăng (để tránh lạm phát.)


Tưởng cũng nên phân biệt giữa John M. Keynes và Milton Friedman:

  • Keynes: nhà nước tăng giảm chi tiêu nghịch chu kỳ (counter-cyclical spending) bằng biện pháp tài chánh (fiscal policy, gồm ngân sách và thuế khóa);

  • Friedman: NHTƯ tăng giảm lãi xuất và lượng tiền lưu hành nghịch chu kỳ bằng chính sách tiền tệ (monetary policy).


Nhưng NHTƯ chẳng qua chỉ là nhà nước? Khác nhau ở chổ:


  1. NHTƯ là một cơ quan chuyên môn không có quyền lực chính trị như nhà nước. Chính sách tiền tệ của NHTƯ có thể quá trớn nhưng không thể quá đà như nhà nước lạm dụng quyền lực chính trị vi phạm đến tự do cá nhân và của cải của dân chúng.

  2. NHTƯ thuần túy lo về kinh tế (lạm phát và công ăn việc làm), trong khi các vấn đề xã hội như bình đẳng màu da, giàu nghèo phải do các đại diện dân bầu quyết định.

  3. NHTƯ là một cơ quan độc lập để không bị nhà nước biến trở thành một công cụ chính trị (thí dụ nhà nước không thể thúc NHTƯ hạ lãi suất nhằm mua chuộc lá phiếu trong mùa bầu cử.)


Như vậy nguyên tắc độc lập của NHTƯ không chỉ trong phạm vi kinh tế mà còn hàm ý nghĩa chính trị. 


Tóm lại từ năm 1980 (Reagan) cho đến 2007 (Đại Khủng Hoảng Tài Chánh): 

  • John M. Keynes (fiscal policy) rời sân khấu

  • Milton Friedman (monetary policy) thành kép chính.


Nhạc công (maestro) nổi tiếng nhất trong giai đoạn này là Thống Đốc NHTƯ Alan Greenspan điều chỉnh lãi xuất chỉ đạo. Thị trường theo dõi canh me cặp-táp ông xách đi họp, dày cộm thì hạ giá chứng khoáng (ông có nhiều chuyện bàn) còn mỏng thì tăng giá (chẳng có gì để nói.) 


MỸ (2007 cho đến nay)


Từ năm 2007-2020 nước Mỹ bị 2 cú sốc gần chết nên đem cả John M. Keynes và Milton Friedman cùng lên sân khấu.


Cú sốc thứ nhất khi đầu cơ địa ốc dẫn đến Đại Khủng Hoảng Tài Chánh 2007-2008. 

  • Nhà nước dùng biện pháp tài chánh (fiscal policy) tung ra gói cứu nguy (TARP 2008, 700 tỷ USD) và gói kích cầu (ARRA 2009, 831 tỷ USD);

  • NHTƯ dùng chính sách tiền tệ (monetary policy) bơm tiền (Quantitative Easing) và giữ lãi suất thấp


Cú sốc thứ nhì với Đại Dịch Vũ Hán năm 2020:

  • Nhà nước dùng chính sách tài chánh tung ra 2 gói cứu trợ (Trump 2020, 2200 tỷ USD; Biden 2021, 1900 tỷ USD);

  • Biden đang vận động đầu tư hạ tầng (Infrastructure Plan, 1200 tỷ USD) và an sinh xã hội (Build Back Better, 1750 tỷ USD);

  • NHTƯ tiếp tục bơm tiền và giữ lãi suất thấp (NHTƯ cho biết sẽ bớt bơm tiền vì lạm phát đang lên.)


Cho nên nợ công nước Mỹ tăng vọt. Năng suất không tăng mà GDP tăng (do nhà nước bơm tiền). Dân chúng không cần đi làm mà vẫn tiền dư rủng rỉnh.


Vai trò trên sân khấu của Milton Friedman không thay đổi (NHTƯ tiếp tục bơm tiền và hạ lãi suất) nhưng của John M. Keynes ngày càng lấn áp với bàn tay can thiệp của nhà nước không những để cứu vớt nền kinh tế mà còn lạm quyền dùng ngân sách và thuế khóa thò dọc cải tạo xã hội (bình đẳng màu da, giàu nghèo, đánh thuế nhà giàu…) theo kiểu xã hội chủ nghĩa. Chính ngay NHTƯ hiện giờ cũng bị áp lực chính trị để dùng biện pháp tiền tệ tạo công bằng xã hội và hổ trợ đầu tư công nghệ xanh, tức là tính độc lập của NHTƯ đang bị đe dọa. 


Những kinh tế gia cánh tả như Paul Krugman thúc giục Biden đánh thuế cao và tiêu xài nhiều hơn nửa để bảo vệ môi trường và tạo bình đẳng giàu nghèo. Mỹ nợ ngập đầu nên đẻ ra một lý thuyết mới thịnh hành trong phe cấp tiến là Thuyết Tân Tiền Tệ (MMT, hay Modern Monetary Theory) lập luận nhà nước đừng lo nợ tăng, vì Mỹ mượn nợ bằng USD nên Mỹ in USD trả nợ. 


Mỹ chê Tàu dởm. Tàu cười Mỹ khùng.



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.