Hôm nay,  

Miệng Đời

14/11/201900:00:00(Xem: 7928)

Hậu về ôm bà Hai nức nở thủ thỉ:

- Con khổ quá mẹ, bác sĩ nói con vô sinh!

Bà Hai vỗ về:

- Bác sĩ nói nhưng mình cứ cố gắng hết sức, chừng nào không thể được hẵng hay.

- Con đã đi bác sĩ Tây y, Đông y, cầu tự… đã làm đủ cách mọi người chỉ bảo nhưng hoàn toàn không có kết quả. Con nghĩ  chắc số phận con như thế rồi! 

Bà Hai thở dài, lặng im một lát rồi hỏi:

- Vậy  ý chồng con thế nào?

- Anh ấy rất thương và thông cảm với con. Anh ấy nói dù thế nào cũng không bỏ con. Anh ấy còn bảo có thể nhận trẻ mồ côi về làm con. Con rất cảm động với tình yêu anh ấy dành cho con, nhưng lòng con vẫn  đầy lo lắng. Mẹ biết không? Vô sinh đã là nỗi đau lớn ấy vậy mà nhiều người hết sức nhẫn tâm. Họ noí bóng gió sau lưng con:” Cây độc không trái, gái độc không con”. Con có đắc tội với ai đâu mà họ nỡ lòng làm cho vết thương lòng càng thêm đau.

Bà Hai lòng dạ cũng đau không kém gì con mình, tâm can như cào xé, gịong bà trở nên thiểu não:

- Miệng đời vốn hay đơm đặt, đưa đẩy những chuyện không hay. Họ cười cợt trên nỗi đau của người khác, biết làm sao được hả con, thôi thì mình giữ phận mình, gắng sống cho tử tế, giữ tròn phận mình thì trời Phật sẽ gia hộ.

Hậu im lặng, lòng thấy thương mẹ vô cùng, mình vô tình làm cho mẹ thêm buồn lo. Hậu gượng cười:

- Thôi mẹ đừng buồn nữa, con sẽ không sao đâu, sông có khúc người có lúc mà!

Bà Hai tiễn con ra cữa nhìn theo bóng dáng Hậu cho đến khi  khuất nơi cuối phố mới quay vào nhà. Bà gọi ông:

- Ba con Hậu đâu rồi?

Ông từ trên lầu bước xuống hỏi:

- Có chuyện gì mà bà kêu tui vậy?

- Thì chuyện con gaí của mình chứ chuyện gì!

- Con gái mình sao?

- bác sĩ noí nó vô sanh.

Ông thở dài bảo:

- Tôi cũng biết rồi, thiệt tình tui nghe hết  hai mẹ con bà tâm sự. Tui vẫn khấn nguyện cho con, vẫn hồi hướng công đức cho con và các pháp giới chúng sanh. Mình làm hết khả năng của mình thôi, vô sinh kể cũng bất hạnh thật nhưng con gái cũng còn dư phước, gặp được thằng chồng hết lòng yêu thương và tử tế biết bao. Đời mà bà , nhiều khi mất cái nọ laị được cái kia!

Hậu về đến nhà thấy Hỷ đã về từ trước bèn noí:

- Tan sở em ghé về thăm mẹ nên về trễ.

Hỷ cười noí:

- Em khoẻ không? thỉnh thoảng tranh thủ ghé thăm mẹ cho mẹ vui

- Em đã noí với mẹ chuyện vô sinh rồi,

- Thế mẹ có nói gì không?

- Mẹ buồn và an uỉ em nhiều lắm. Mẹ khuyên sống tử tế. Anh, cuối tuần này mình lên chùa lễ Phật nghe anh?

- Ừ, thì đi!

Cuối tuần chùa khá nhộn nhịp, sau thời kinh mọi người thọ trai xong lần lượt ra về, chờ vãng khách Hậu mới thưa với thầy:

- Con bị vô sinh, đã chạy chữa moị cách nhưng hoàn toàn vô vọng. Thầy ơi! Không biết kiếp trước thế nào mà kiếp này con chịu đau khổ thế này?

Thầy từ tốn noí:

- Vô sinh kể cũng buồn thật, theo lẽ đời thì cho là bất hạnh nhưng theo lý đạo thì có thể con không có ân oán gì nên kiếp này họ không đến tìm con! Theo thầy thì con cũng có thể nhận trẻ mồ côi về làm con. Xã hội này cò biết bao nhiêu phận đời hẩm hiu. Con là Phật tử thuần thành  hãy coi trẻ mồ côi cũng như con ruột thì ít ra cũng cưú vớt được một người. Ấy cũng là niềm vui của con mà cũng là phước đức của cả hai.

- Thưa thầy, vợ chồng con cũng tính như thế! Thầy biết không ? vô sinh đã là nỗi đau buồn ấy vậy mà nhiều người độc miệng cứ bảo:” Cây độc không trái, gái độc không con.”

nghe là tủi lắm. Con phải làm gì với những lời bóng gió này?

- Con chẳng cần làm gì cả, con cứ sống tốt, cứ giữ phận mình. Trời đất quỉ thần biết. Bồ tát gia hộ con. Con không biết rằng miệng đời vốn độc sao? người mình vốn hay cười cợt trên nỗi đau của người  khác, đem những khiếm khuyết của người ta gắn vào tên mà gọi như: Tám cụt,  Tư rỗ, Bảy thọt… Người mình nhẫn tâm đặt ra những câu như:” Nhứt lé nhì lùn tam hô tứ sún” hoặc như:

“Những phường ti hí mắt lươn

Trai thì trộm cướp gái buôn chồng người”

Con thấy đấy! người Nhật, Hàn, Tàu, Việt… phần nhiều mắt ti hí không lẽ ai cũng trộm cướp, làm điếm hết sao? đặc điểm về hình thức nhân chủng chẳng liên can gì đếm tư cách, phẩm chất con người! ấy vậy người mình vẫn cứ tin, vẫn cứ nói… Họ vô tình làm cho nỗi đau của những kẻ bất hạnh càng đau thêm. Họ vô tình tạo nghiệp bất thiện về miệng. Mình học Phật, tu theo Phật phải có chánh kiến, phải biết “chấn tác” những cái sai quấy và nếu có thể mình mạnh dạn phân tích cho người chung quanh mình hiểu.  Giờ quay laị việc của con, con hãy vững tin vào Tam Bảo đừng vì cái bất hạnh của mình mà sanh lòng suy thoái hay có ý nghi ngờ nghe con!

 Hậu cùng chồng đồng đứng dậy  chắp tay xá thầy:

- Chúng con cảm ơn thầy chỉ dạy, chúng con nhất định làm theo lời thầy!

Trên đường về Hậu cảm thấy lòng nhẹ nhõm hơn rất nhiều. Hậu vòng tay ôm lấy Hỷ thỏ thẻ:

- Em cảm thấy an tâm nhiều lắm, nhờ thầy an ủi, chỉ dạy. Em cũng biết ơn anh nhiều lắm, vì em vô sinh mà anh vẫn không bỏ em!

Hỷ cười ấm áp:

- Anh sẽ không cho em chạy thoát khoỉ tay anh đâu, dù em có tìm cách bỏ trốn anh cũng sẽ bắt em về , dù cho thế nào đi nữa anh cũng không bỏ em.

Hậu siết chặt vòng tay ôm Hỷ, duị mặt vào lưng Hỷ giọt lệ nóng  từ khoé mắt thấm qua làn áo Hỷ. Hỷ cảm nhận được và anh noí tiếp:

- Bây giờ mình sẽ nhận một bé mồ côi về nuôi dưỡng, sau này dư dả hơn anh muốn nhận thêm sao cho đủ một đội banh. Lúc đó em tha hồ mà chăm sóc!

Hậu đấm lưng Hỷ:

- Trời! mười một cầu thủ cộng anh nữa là thành mười hai sứ quân, chắc “ chiến tranh” trong nhà sẽ liên miên đây!

Cả hai cùng cười to trên đường về chiều lộng gió.

 

Đồng Thiện

Đồ Bàn thành, 2018 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.