Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Buông Ở Chỗ Này

17/09/201900:00:00(Xem: 1030)

Yên Tử vào xuân, cánh hoa đào bay phới phới giữa ngàn xanh, cánh rụng trên thảm cỏ, cánh vướng cành thông… Không gian như mới mở ra một cảnh sắc tươi thắm lạ lùng, dầu rằng không biết mấy ngàn xuân qua vẫn thế! Dưới chân núi từng nhóm má hồng cùng bọn lục lang trẩy hội, chúng trêu đùa gọi nhau í ới vang động một góc núi rừng. Dọc hai bên đường những quán xá mọc lên đón khách, thịt thú rừng treo lủng lẳng trông thật phản cảm ở một nơi mệnh danh đất thiêng. Trong quán đầy thực khách, những kẻ phàm ăn tục uống. chúng nhồm nhoàm rượu thịt, tiếng cụng ly, chạm bát nghe chát chúa; tiếng nhừa nhựa của đàn ông, tiếng the thé của đàn bà…Chúng muốn phô phang cho cả thế giới biết chúng là ai vậy!thật vô ích vì ai nhìn vào cũng thừa biết cơ mà! Cuối góc quán có một gã trai trẻ ngồi một mình với bầu rượu và dĩa mì xào. Gã trầm ngâm mơ màng như thể xung quanh không có ai vậy, giữa bao huyên náo mà gã như chẳng nghe gì.Thỉnh thoảng gã tợp một tí rượu từ cái nậm rượu của mình. Nhiều kẻ liếc xéo gã rồi buông lời:

“Chắc thất tình?”

“Đồ gàn dở ấy mà!” kẻ khác laị dè biểu

Nói rồi cười hô hố và tiếp tục nâng bát xì xụp húp.

Chừng như nậm rượu cạn, gã tính tiền rồi ra đi, hoà vào dòng người leo núi. Một đám con gái xuân thì trêu gã:

“Du xuân mà sao chàng buồn thế?”

 “Ta có buồn gì đâu?” gã trả lời

 “Thế sao đi một mình? Hãy nhập bọn với chúng em!” bọn con gái vẫn trêu

Gã bảo:

“Đa tạ tấm lòng chiếu cố của các cô, nhưng tôi thích đi một mình hơn!”

Bọn con gái ra điều tiếc rẽ, chúng kéo đi mà còn oang oang như thể nhắn nhe với gã

“Người đâu đẹp trai thanh tú, thế mà laị…”

Chúng bỏ dở câu nói nhưng gã hiểu ý họ muốn nói gì, nghe thì nghe nhưng như gió thoảng qua tai. Gã chẳng bận tâm, trong lòng gã còn có mối quan tâm khác lớn hơn, cũng vì vậy mà gã quyết định leo Yên Tử một mình. Càng lên cao bước chân càng nặng hơn, hơi thở gấp gáp hơn. Khí trời mùa xuân còn lạnh thế mà lưng áo đã chừng như thấm mồ hôi. Rễ tùng bách bò ngoằn nghèo chằng chịt như những con rắn khổng lồ. Gã leo núi chẳng phải trẩy hội xuân mà là để tìm lão sư, người mà năm xưa trong một lần tình cờ diện kiến ở ngôi chùa quê.

Năm ấy cũng vào xuân, gã lên chùa lễ. Gặp lão sư, gã bái kiến và định tham vấn những thắc mắc thì lão sư chận laị ngay:

“Ngươi lên chùa cầu gì?”

“Thưa lão sư, con chẳng cầu gì.” Gã trả lời

“Vậy ngươi lên đây làm gì?” Lão sư hỏi

“Thưa, con lên đây học Phật Pháp.” Gã đáp

“Học làm người chưa mà muốn học Phật? lão sư vấn

“Thưa lão sư, dẫu chưa tốt nhưng cũng trọn phận người.” gã nói

“Học Phật, thế ngươi muốn học gì?”

“Thưa lão sư, người có gì thì dạy con thứ ấy.”

“Ta có cả nhưng ngươi kham nổi không?”

“Thưa lão sư, không nổi cũng ráng kham”

“Thế thì không được! ở đây không có chỗ miễn cưỡng.”

“Thưa lão sư, không miễn cưỡng mà là tinh tấn.”

“Sắc tức thị không, vậy ngươi lấy gì để học?”

“Không tức thị sắc, lấy tâm mà học.”

“Thế tâm ngươi đâu?”

“Thưa lão sư, sắc tức thị không.”

“Thế Tôn bốn mươi chín năm nói pháp, cuối cùng tuyên bố ta có nói gì đâu! Vậy lấy gì dạy ngươi?”

“Thưa lão sư, học cái muôn loài vốn biết mà mê.”

Lão sư đứng dậy nhìn thẳng mắt gã, vỗ vai:

“Thằng oắt con, mồm mép biến báo nhưng khả dĩ học đạo được. Ngươi có chỗ để thọ và có cái cần buông, ngặt một nỗi nặng nghiệp trăng hoa... tiếc lắm thay!”

Gã sụp lạy xin bái lão sư làm sư phụ. Lão sư gật đầu hứa khả nhưng bảo:

“Mùa xuân Nhâm Tý lên Yên Tử gặp ta.”

“Thưa sư phụ, con còn chưa biết pháp danh của sư phụ vả laị Yên Tử mênh mông con biết tìm đâu? Gã thắc mắc

“Ngươi không phải bận tâm việc đó, cứ lên Yên Tử, đến am Vân Mộng hỏi Thanh Nguyệt du tăng thì ắt gặp. Ta với ngươi có duyên đạo với nhau, hôm nay chưa thể nói hết những gì cần nói!” Lão sư bảo

Gã trở về, ngày tháng qua mau như nước chảy hoa rơi; việc mưu sinh làm gã quên bẵng chuyện ở chùa hôm ấy. Khi tết cận kề thì gã laị nhớ lời lão sư. Gã quyết định nghỉ việc và sửa soạn hành trang ra giêng sẽ lên Yên Tử

Dòng người trẩy hội xuân đông quá, nam thanh nữ tú, cụ ông cụ bà, nhiều vị khoác aó tăng sĩ hoà lẫn vào trong ấy.Quá ngọ thì gã tới đỉnh, người lăng xăng ngắm nghía, chụp hình và trầm trồ:

 “Đẹp quá, như bồng lai tiên cảnh.”

Kẻ khác thì bảo:

“Đất Phật có khác!”

Tìm vào Vân Mộng am, còn đang ngẩn ngơ thì một tăng nhân ra chào và hỏi:

“Xin hỏi thí chủ có phải Thanh Vân du sĩ?”

Gã thưa phải tức thì vị tăng ấy đưa gã đi ngay, qua khỏi am một quãng đường là tới vườn thông xanh biếc. Giữa vườn có nhiều ngôi tháp rêu phong hiện rõ hình hài tháng năm, đặc biệt có một ngôi tháp có vẻ còn mới nhưng rêu cũng kịp xanh xanh trên mái. Tăng nhân chỉ vào ngôi thấp ấy, nhìn thấy toàn chữ Nho. Gã lõm bõm đọc được hàng chữ to ở chính giữa:

“Thanh Nguyệt du tăng chi mộ.”

Gã sụp xuống qùy lạy, mắt ngấn lệ, miệng chỉ thốt lên được hai tiếng:

“Sư phụ!”

Chiều về am, vị tăng nhân trao cho gã một cái tráp và bảo:

“Đây là di cảo của lão tăng, người căn dặn trao cho thí chủ khi nào thí chủ đến đây! Tôi đã chờ ba năm ở đây, hôm nay xin trao laị.”

Gã đón nhận và cảm ơn vị tăng, mở tráp ra thì có mươi cuốn tập viết tay, một chiếc áo cà sa và một phong thư. Gã cầm lấy phong thư đọc:

“Thanh Vân du sĩ con!

Ta biết con sẽ đến nhưng ta phải đi rồi! Chúng ta có duyên nhưng không nhất định phải gặp nhau. Ta biết con không thể xuất gia được, ít ra là ở kiếp này! nhưng con có thể học đạo được! năm xưa Thế Tôn dạy: “Thắp đuốc lên mà đi, lấy giáo giới làm thầy!..” Ta có một chút ưu tư: Liệu con có buông được hay không? Tâm con nặng sắc dục, tơ tưởng trăng hoa, mấu chốt là ở chỗ này! học đạo được hay không cũng từ đây, Buông cũng ở điểm này! Ta vẫn hy vọng ở con, học đạo quan trọng ở thực hành, áp dụngnhững lời dạy vào thực tế chứ không phải để nói suông, khoe chữ! Thời gian của ta đã hết nên không thể chờ đợi gặp con được. Ta đi rôì, nếu con cứ y giáo phụng hành thì cũng như có ta bên cạnh vậy! Học đạo dù là xuất gia hay tại gia cũng đều là đi ngược dòng. Mình phải buông bỏ những cái mà người đời ôm vào. Mình phải giữ vững thanh quy, những thứ mà người đời buông bỏ. Đời hôm nay, đạo pháp suy vi, giới luật tuỳ tiện phá bỏ và nguỵ biện bằng chữ “phương tiện”. Trang thư naỳ không thể nói hết ý, con về đọc những gì ta trao cho con thì sẽ hiểu thêm và cứ thế mà học theo. Chiếc áo Cà sa như một tín vật, mỗi khi lòng lung lay thì nhìn thấy để mà tự sách tấn bản thân!

Ta luôn hy vọng ở con

Thanh Nguyệt du tăng lão sư

Vân Mộng am”

Cầm tờ thư mà ngấn lệ long lanh, trong am đèn bạch lạp cháy lung linh soi bài vị lão sư. Gã lạy tạ trước linh vị lão sư xong bước ra ngoài, cánh hoa đào bay chấp chới, xa xa ngôi tháp thấp thoáng giữa màu xanh bất tận của vườn thông.

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 2018

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
Cùng với tác phẩm của Dương Thu Hương-"Những Thiên Đường Mù", Trần Mạnh Hão-"Ly Thân", Bảo Ninh-"Nỗi buồn Chiến tranh", Phạm Thị Hoài-"Thiên sứ", "Tướng về hưu"của Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên dòng văn học phản kháng.
Và cũng có thể biết thêm rằng, nếu tổng thống Franklin Roosevelt từng ngồi xe lăn để lãnh đạo nước Mỹ suốt 12 năm và bảo vệ thế giới tự do, mang lại chiến thắng cho phe đồng minh trong Đệ Nhị Thế Chiến thì thể chất của tổng thống Joe Biden không phải là điều để người ta bàn luận nhiều như vậy.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.