Hôm nay,  

Một vài kỹ thuật trong thơ Du Tử Lê

21/08/201923:15:00(Xem: 4341)
Một vài kỹ thuật trong thơ Du Tử Lê
 
ĐẶNG PHÚ PHONG

  

( Bài phát biểu trong chiều "Thơ, Họa Du Tử Lê" ngày 18 tháng 8 - 2019, San Jose)

  

Theo dõi thơ Du Tử Lê từ những năm năm mươi của thế kỷ trước đến hiện nay là tập thơ “em cho tôi mãi nhé: ấu thơ mình”mới nhất của ông, về vần, âm, điệu ta thấy có một đặc trưng là cách xử dụng vần trong thơ đều là vần lơi hay hơn thế là chẳng có vần, trong những đoạn tứ tuyệt 7 chữ hay 8 chữ và 5 chữ, cả ở thể thơ lục bát. Du Tử Lê đã tự đặt nguyên tắc cho mình như thế đó. Đây không phải là một sự bứt phá mà là làm mới cho những khổ thơ 3 vần hay cách vần theo chiều hướng để câu thơ rộng ra theo âm điệu, mênh mang hơn, giàu nhạc điệu hơn.

 

Tôi thấy ra rằng ông nhốt 3 kỹ thuật làm thơ là vần, âm, điệu chung thành một kỹ thuật là “vần-âm-điệu”. Như vậy là sao? Có nghĩa là Du Tử Lê chăm chút cho thơ mình không những từng câu mà từng chữ. Ông cứ để từng chữ thơ rơi tự nhiên, sự tự nhiên dựa theo cơ bản từ tâm thức gieo xuống, trong những con chữ đâu đó trong đọan thơ mang vần, mang âm của chữ được mặc định là âm chủ, bất kỳ âm bằng hay âm trắc. Đó là vần ẩn. Hoặc là những chữ có liên quan với vần chủ, trong bất kỳ (những) chữ nào của khổ thơ. Hoặc là dùng những hình ảnh có liên quan với nhau. Những kỹ thuật ấy đan xen với nhau rồi quyện, tỏa thành một nhạc tính riêng trong thơ của Du Tử Lê. Tôi xin đưa một vài đoạn thơ trong bài Khúc Thụy Du, ông viết năm 1968:

 

“như con chim bói cá

trên cọc nhọn trăm năm

tôi tìm đời đánh mất

trong vụng nước cuộc đời”

 

Đoạn này ông áp dụng vần cách, nhưng thực ra chữ “năm” không vần được với “đời” thì ở đây ta thấy ông dùng 2 hình ảnh rất liên quan một cách thắm thiết, đó là chim bói cá và chiếc cọc nhọn. Và:

 

“mịn màng như nỗi chết

hoang đường như tuổi thơ

chưa một lần hé nở

trên ngọn cờ không bay

đôi mắt nàng không khép

bàn tay nàng không thưa

lọn tóc nàng đêm tối

khư khư ôm tình dài”

 

Ta chú ý đến những chữ như: “ mịn màng như” “hoang đường như” – “thơ” “nở” và “không bay” “không khép” “không thưa” tất cả những cụm từ này đan quyện lại với nhau làm cho đoạn thơ này có âm hưởng quấn quýt với nhau. Ông đã dùng kỹ thuật vừa âm (mịn màng, hoang đường), vừa vần chỏi ( thơ, nở) . vừa điệp âm, láy điệu (ba chữ nàng, ba chữ không) tự chúng tạo nên một nhạc tính riêng. Người nhạc sĩ nào bắt được cái nhạc tính riêng từ những bài thơ của ông sẽ tạo nên giai điệu phù họp, dễ đi vào lòng thính giả. Cứ thế, thơ quyện vô nhạc, nhạc hòa với thơ biến thành những bài hát phù trầm, miên man như suối chảy. Điều này có thể giải thích tại sao đa phần những bài nhạc phổ thơ Du Tử Lê trở nên nổi tiếng, được nhiều người yêu thích.

 

Tim Lomas là một giảng viên về tâm lý học từ đại học East London có đề ra một dự án tên là Positive Lexicography Project (tạm dịch dự án thuật ngữ tích cực) nhằm tìm kiếm những từ ngữ từ nhiều nước khác mà tiếng Anh không có để diễn tả những cảm xúc của con người. Trong một bài viết về Tim Lomas, ký giả David Robson của BBC như sau: Lomas cho rằng việc làm quen với những từ này có thể thay đổi cách chúng ta suy nghĩ về bản thân, bằng cách chú ý đến những cảm xúc mà từ lâu chúng ta đã không để ý đến. Ông dẫn lời Tim Lomas như sau:

 

“Trong ý thức của mỗi người, có rất nhiều cảm xúc diễn ra cùng một lúc, đến nỗi có thể chúng ta không thể xử lý kịp và để chúng vụt đi mất.

 

Những cảm xúc mà chúng ta có thể nhận biết và phân loại là những cảm xúc mà chúng ta để ý đến; thế nhưng có rất nhiều cảm xúc khác mà có thể chúng ta không hiểu. Vì vậy tôi cho rằng những từ mới này sẽ mở ra những xúc cảm khác mà lâu nay ta chỉ biết thoáng qua."

 

Tiếng Việt ta cũng vậy nên rất nhiều những văn thi sĩ đã tự mình tìm những từ khác để diễn tả cảm xúc của mình nhưng nó không trở thành phổ thông hay lâu dài được. Thi sĩ Du Tử Lê cũng vận dụng hết sức mình để tìm những từ mới, thay đổi vị trí tính từ, động từ, trạng từ trong câu thơ. Ông cũng dùng dấu chấm, dấu slash để cách tân . Như vậy Du Tử Lê đã vận dụng cả về mặt hình thức và cả âm-vần-điệu để diễn tả những cảm giác mà ngôn ngữ chưa diễn tả được, còn diễn tả được bao nhiêu, như thế nào thì xin chờ những nhà ngôn ngữ học đánh giá. Tôi nghĩ nếu Tiến sĩ Tim Lomas đọc được tiếng Việt , cũng rất có thể ông sẽ mượn ở Du Tử Lê một số từ ngữ để bổ sung thêm cho tiếng Anh đấy.

 

Trong bài nói chuyện tại Hoa-Thịnh- Đốn giáo sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh đã nói về dấu slash của thơ Du Tử Lê như sau:

 

“Như một tráng sĩ đi tiên phong, Du Tử Lê đề nghị dùng gạch chéo/Slash/như một đao pháp để hoán chuyển chữ trong một câu thơ. Chẳng hạn trong 2 câu:

 

“còn/rừng/gương/ soi cho tôi

bao dung/núi/đợi. nghiêng vai/sông/ chờ”

 

Có đến 7 gạch chéo để người đọc có thể hiểu và hoán vị thành ‘tôi soi gương” hay “rừng soi gương” hay “rừng còn soi gương” hay “gương soi rừng”. Lối hoán vị này đã cởi những trói buộc cho thơ. Sau này …tôi tin chắc có nhiều bạn trẻ khi làm thơ lục bát đổi mới, sẽ thầm cảm ơn Lê đã chỉ đường vạch lối cho họ…”

 

Giáo sư đã chơi chữ trong khi ông dùng từ “đao pháp” từ những dấu slash chéo ngang như nhát chém của một đường đao, thật mạnh bạo, để chúng ta thấy rằng Du Tử Lê đã mạnh dạn chặt câu thơ của mình mở đường cho người đọc tương tác cùng ông những câu thơ khác tùy theo cảm nhận của mọi người. Riêng cá nhân tôi, hai câu thơ nầy tôi cảm như sau:

 

“soi cho tôi còn gương rừng

nghiêng vai núi đợi bao dung sông chờ”

 

Lối tương tác để thành một câu thơ khác, giúp chúng ta hiểu nhiều hơn, sâu hơn thơ của tác giả là một phương pháp rất khả thi nhưng độc đáo vậy.

Cũng theo lối tương tác này, chúng ta thấy những chữ mang âm hưởng hài hòa với nhau trong một đoạn hay bài thơ xuất hiện cùng khắp, không theo một sắp xếp như Tứ Tuyệt, Lục Bát v. v. mà nó ở bất kỳ và tạo thành một nhạc điệu cũng bất kỳ nhưng dễ cuốn hút người đọc.

 

Cũng trong kỹ thuật “vần, âm, điệu” của Thi sĩ Du Tử Lê, không những ông dùng điệp tự trong một đoạn mà cả trong một câu ông cũng dùng một chữ để lập đi lập lại nhiều lần. Đặc biệt hơn nữa là ông lập lại nguyên cả một số câu thơ trong mỗi đoạn thơ như trong tập thơ mới nhất mang tên: “em cho tôi mãi nhé: ấu thơ mình” Trong bài thơ “thơ ở mai thảo” ông đã dùng 5 lần 3 câu:

 

đã lâu. không còn ai hăm hở hay vội vã,

bước lên căn phòng lầu hai

(sau này là căn phòng dưới chân cầu thang”

 

Có phải chăng ông muốn nhấn mạnh cái thang thương trong cuộc đời hữu hạn?

 

hay trong bài thơ “thơ ở nguyễn trọng tạo” ông dùng 3 lần mấy câu sau đây:

 

“không thể biết bao giờ chúng ta được gặp lại nhau?

trên quê hương đất nước của mình?

nhưng tôi biết...”

 

Đó là những điều tác giả muốn lập đi lập lại để nhắc nhở những điều đã mất, để nhân rộng tiền đề của từng phân đoạn thơ, gây ấn tượng mạnh cho người đọc.

 

Không thể không nói đến phép ẩn dụ và liên tưởng trong thơ của Du Tử Lê. Ẩn dụ là phép dùng từ ngữ dựa trên sự liên tưởng và so sánh ngầm. Liên tưởng là nhân sự việc, hiện tượng nào đó mà nghĩ tới hiện tượng liên quan khác. (theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ Học). Chúng ta có thể hiểu ẩn dụ thiên về sự việc có tính nhân sinh, triết lý còn liên tưởng thiên về hình ảnh hay sự việc hơn. Trong thơ của Du Tử Lê rất nhiều ẩn dụ và liên tưởng. Lấy một thí dụ trong tập “ em cho tôi mãi nhé: ấu thơ mình” (trong hàng ngàn thí dụ): Bài thơ “đêm, vẩy thìa cháo trắng trên hè phố” đây là một tựa đề và cũng là một câu thơ vậy. Câu thơ có cả ẩn dụ và liên tưởng. Ẩn dụ là tác giả muốn nói đến cúng cô hồn; còn liên tưởng là giúp ta tưởng tượng đến sự việc, hình ảnh những cái chết oan uổng, tức tưởi thành những cô hồn lang thang vất vưởng.

 

Riêng về cách điệp từ nhiều lần chỉ trong một câu như trong bài “Tôi nào?” viết từ năm 1990: “tôi Lê. Lê. Lê. Lê nào?” câu thơ như một tiếng kêu trầm thống.

 

Ai cũng hiểu trong mỗi chúng ta đều có nhiều “con người”. “con người” cô đơn, “con người “hạnh phúc", “con người ”tham lam, “con người” vị tha, vân vân và vân vân. Để diển tả ý tường này (đây cũng là phép ẩn dụ) ông chỉ dùng 2 chữ “tôi…nào” kèm giữa 4 chữ Lê gây ra hệ quả một tràng âm thanh vang xa, gặp trùng điệp núi rừng dội lại những vọng âm và tìm trong vọng âm ấy “con người” nào là của chính mình trong khoảng thời gian và không gian ấy.

 
blank
 

Ẩn dụ và liên tưởng của câu thơ này chưa đủ diễn tả hết ý tưởng của ông nên ông lại đưa nó lên giá vẽ. Câu thơ đã biến thành bức chân dung của tác giả đang đội chiếc nón lưỡi trai, cặp mắt kính bị bẻ làm đôi, một con mắt nằm ở vị trí bình thường, một con mắt nằm tuột xuống dưới cầm và đặc biệt có môt chấm tròn màu đỏ nằm trên cái lưỡi trai, ngay tầm của con mắt đã bị dịch chuyển. Phải chăng và rất có thể, tác giả muốn cho chúng ta biết rằng, ông, trong một phút giây nào đó chợt nhận ra một “con người” khác của ông đã vì phải sống trong cõi đời ô trọc này nên đành phải nhìn đời chỉ bằng một con mắt. Còn con mắt kia chảy đỏ máu, cho cảnh đời đau khổ này được dấu kín trong sâu thẳm tâm hồn. Câu thơ đã nằm trong những màu sắc nhạt nhòa, vàng thổ của đất, những vòng tròn, những tam giác có lúc khép kín có lúc đứt quãng tạo cho người xem cái cảm giác buồn bã, dở dang của mọi việc trong đời. Nhưng, như vậy vẫn chưa đủ, chưa hết những ý tưởng từ câu hỏi: “tôi Lê. Lê. Lê. Lê nào?” nên ông đã vẽ nó ít nhất là 3 bức.

 

Nhiều nhà văn, nhà thơ đã bước sang lãnh vực hội họa đều có chung mục đích là dùng màu sắc, đường nét để diễn tả những gì thơ văn không nói được, Du Tử Lê cũng thế. Nhưng ông có khác một chút là ông vẽ câu thơ của mình, thường là đã có. Những dấu hỏi mặt người, những cây cột có đầu người trong tranh đã trở thành những câu thơ có màu, có sắc, vang vọng trong lòng người xem. Ta có thể nói tranh và thơ của Du Tử Lê đã hòa quyện thành một.

ĐPP.

 



 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.