Hôm nay,  

Đảng Cộng Sản Ở Hà Nội Vốn Là Đảng…

8/17/201900:00:00(View: 4547)

Để quả quyết đảng cộng sản hiện đang cai trị nước Việt nam là thứ đảng gì, về bản chất, và cả về hành động, Cỏ May tôi xin nhắc lại một giai thoại trong truyện «Xe lên, xe xuống» (Nguyễn Bình Phương, Diễn Đàn Thế kỷ, Huê kỳ xuất bản tháng 12-2011): «Có lần Trùm phỉ Chu Chồ Sền bảo Chu Văn Tấn Chúng mày vì nghèo khổ mà đi làm cách mạng. Chúng tao vì nghèo khổ mà đi ăn cướp. Thế là giống nhau".

Tướng Chu văn Tấn trả lời bảo không giống nhưng không nói tại sao không giống. Và không giống ở điểm nào?

Có lẽ trong lúc đó, Tướng Chu văn Tấn nghĩ «Chúng nó nghèo mà đi ăn cướp. Còn mình, thiệt tình cũng đói,  mà đi làm cộng sản. Nhưng chúng nó đi ăn cướp vì nghèo là chúng nó nói thiệt. Chúng nó nói thật lòng. Còn mình cũng đi ăn cướp nhưng lại nói đi làm cách mạng, thì làm sao mà gióng nhau với chúng nó được?».

Vậy đảng cộng sản ngày nay ở Việt nam là đảng ăn cướp? Nó bắt đầu từ lúc nào? Ai là đảng trưởng sáng lập?

 

Lê-nin, đảng trưởng sáng lập

Truyền thống của cộng sản, từ ngày gọi là Cách mạng Tháng 10 ở Nga, là cướp chánh quyền, không hề và ở đâu, do toàn dân tín nhiệm đưa lên nắm chánh quyền. Và người cướp chánh quyền đầu tiên để mở ra thời đại cộng sản gieo tai ương, tang tóc cho nhơn loại, là Lê-nin ở Mạc-tư-khoa (Moscou).

Lúc bấy giờ, Lê-nin tính toán đã có cách mạng Pháp, cách mạng Đức, thì nay phải là cách mạng Nga. Cách mạng Nga sẽ triệt để hơn hết. Nhưng ông phải có lý thuyết. Tchenychevski là người đầu tiên đem chủ nghĩa cộng sản vào Nga qua cuốn tiểu thuyết «Làm gì?» (1864) mà Lê-nin mê say và sau này, ông lấy nguyên tựa sách làm tựa cho tập sách của ông, cũng «Làm gì?».

Tiếp theo, Lê-nin bắt được quyển «Gìáo lý của người cách mạng» (1871) của Serge Netchạev. Ông đắm mình trong quyển thánh kinh của người làm cách mạng nhà nghề giúp ông nhuần nhuyễn những nguyên tắc căn bản như người làm cách mạng là phải «sẵn sàng giết và chết» và «những người lãnh đạo cách mạng Nga phải là những tướng cướp ».

Lê-nin và Staline là hai người kế tiếp nhau lãnh đạo nước Nga đều được đào tạo bởi tư tưởng của Tchemychevski và Netchaìev. Lê-nin là người suy nghĩ ra những phương pháp thiết lập một chế độ độc tài toàn trị. Ông là người lập thuyết của chế độ cộng sản Nga còn Staline vốn xuất thân trong giới lục lâm, nhờ có thành tích thổ phỉ, được Lê-nin tuyển chọn. Staline thực thi lý thuyết cai trị của Lê-nin. Và hai người trở thành một cặp «Lê-nin-Staline » lập ra chế độ cộng sản đầu tìên và lần lược cộng sản hóa gần phân nửa thế giới.

Tìến hành cướp chánh quyền dân chủ xã hội của chánh phủ Alexandre Kerensky, Lê-nin quả quyết «giai cấp tư sản chấm dứt chu kỳ của nó, bây giờ phải là lúc giai cấp vô sản bắt đầu. Cũng rất hợp lý». Bắt được Karl Marx, Engels, Lê-nin nhìn thấy viễn ảnh thế giới theo bước đi của Marx phát họa bằng óc tưởng tượng phong phú của ông, một người chưa từng tiếp cận thực tế. Theo đó, khi giai cấp vô sản tìến lên thay thế giai cấp tư sản thì không có gì hơn phải làm là tiến hành giai cấp đấu tranh. Lý thuyết này đã làm mê hoặc Lê-nin vì nó đáp ứng hoàn toàn bộ óc tôn thờ lý luận của ông. Nhưng thực hiện đấu tranh giai cấp, để lực lượng dân chủ còn xót lại không phá hỏng được, thì cách mạng phải có chánh nghĩa. Vậy Lê-nin phải trở lại với Marx, học lý thuyết, tuy không đạo đức, nhưng nó lại rất «khoa học», nó sẽ giúp bảo vệ tính chính thống cách mạng bằng cách  «thanh toán trước nhứt tất cả lực lượng chống đối, sau đó, tới những người cùng làm cách mạng nhưng có thể sẽ là đối thủ bất lợi với tội danh phản cách mạng».

Nhưng «Cách mạng tháng 10» thật sự có phải là cách mạng hay không?

Theo sử gia Pháp chuyên về cộng sản, ông Stéphane Courtois, (Le livre noir du communisme, Robert Laffont, Paris, 1997- Sách đen của cộng sản), thì đó thật sự hoàn toàn không phải là «cách mạng» đúng nghĩa của nó hoặc cuộc nổi dậy của «quần chúng», như người cộng sản rêu rao. «Cách mạng tháng 10» chỉ là một vụ «binh biến» do lối ngàn quân nhơn nổi loạn và Hồng vệ binh chống lại chánh quyền dân chủ lâm thời đang trên đà suy thoái, gây tổn thất không tới năm người thiệt mạng ỏ Pétrograd. Lại cũng không thể nói đó là một cuộc đảo chánh.

Và đây là vụ biến động thứ ba. Vụ thứ nhứt xảy ra ngày 15/3 dẫn đến nhà vua thoái vị, có thể gọi là cách mạng. Vụ thứ hai nghiêm trọng hơn, đưa quân đội đánh Đức, thất bại, làm cho hằng ngàn binh sĩ đào ngũ với cả võ khí. Vụ thứ ba phức tạp hơn nên bị lợi dụng. Alexandre Kerenski, lãnh đạo chánh phủ lâm thời, giải nhiệm Tướng Kornilov vì thấy Kornilov đang tính ổn định lại tình hình. Hạ Kornilov vì Kerenski bị ám ảnh bởi Napoléon của cách mạng pháp nên sợ sẽ phải đối đầu với Kornilov. Nhưng khi hạ được Tướng Kornilov, Kerenski đã vô tình tách rời chánh phủ khỏi quân đội. Thấy mình bổng ở thế cô đơn, ông vội ngã theo bolchevick tìm chỗ dựa. Nhiều đảng viên bolchevick vừa được ông mở cửa nhà tù thả ra, trang bị 40,000 khẩu súng và cả cho phép nhà in tái hoạt động. Ông không biết làm như vậy, mình đang dấn thân vào con đường tự sát.

Xã hội lâm vào tình trạng khủng hoảng, lương thực thiếu do vận chuyển bế tắc, cải cách nông nghiệp thất bại. Lợi dụng tình hình khủng hoảng, lực lượng bolchevick bắt đầu tấn công. Lê-nin ra lệnh chiếm mau các cơ cấu chánh quyền, tuy bolchevick hảy còn thiểu số. Thế là Quốc hội Lập hiến vừa mới bầu, nền dân xã hội non nớt thành hình sau bảy thập niên quân chủ chuyên chế kết thúc, nhường chổ cho một chế độ mới, độc tài.

Nắm được chánh quyền, Lê-nin rất hài lòng «Thật không ngờ cướp chánh quyền còn dễ dàng hơn trở bàn tay!».

Và đây là bài học cho Hồ Chí Minh làm cách mạng mùa Thu ở Hà nội năm 1945.

 

Thành tích ăn cướp của Staline, con người không bao giờ sai lầm

Staline tâm niệm «quá khứ phải giủ sạch trơn». Khi nắm quyền ở Điện Cảm-linh (Kremlin), điều làm Staline lo sợ hơn hết là quá khứ của mình sẽ bị khai quật. Hồ Chí Minh học kỹ thầy ở điểm này.

Khi Đoàn Thanh niên cộng sản, năm 1938, đệ nạp cho Staline một tập sưu tầm về đời tư của Staline, ông hét lên và bảo hãy đem đốt ngay. Mười năm sau, khi công bố tiểu sử chánh thức, Staline tự viết lại hai mươi năm tuổi trẻ của ông chỉ với vỏn vẹn bốn mươi hàng.

Thật vậy, về tuổi trẻ của ông, rất khó tìm được những điều có thể tin được. Như về cha mẹ, ngày sanh, thơ từ cá nhơn, học bạ, …

Thật ra, sau thời Liên-xô, người ta thấy tài liệu về Staline khá nhiều. Có thể tham khảo được. Những thứ bị xếp là bí mật thì ngày nay đươc phơi bày. Nhà suu tầm người Anh Simon Sebag Montefiore đã đi khắp 9 nước và 23 thành phố của khối cụu Lien-xô củ để điều tra về Staline. Ông tới Géorgie nơi cậu bé Iossif Djougachvili ra đời ngày 6/12/1878 (không phải 1879 như chánh thức ghi -  Hồ Chí Minh chọn ngày sanh là 19/5/1890 và giữ suốt đời). Tại Tbilissi, Staline học ở chủng viện, say mê thơ, nhưng tới Bakou xứ Azerbaidjan, Staline làm việc cho nhà máy Rothschild vừa «tập sự làm Cách mạng»..

Trong những chuyến đi này, sử gia Montefiore thâu thập được khá nhiều thông tin chưa hề tiết lộ về Staline. Ông cũng có dịp gặp vài nhơn chứng của thời Staline, nay còn sống sót và minh mẩn như bà chị dâu của Staline 109 tuổi. Nhờ sự khám phá này mà Montefiore đã phát họa được một Staline thời trẻ đầy đủ nhứt cho tới nay.

Con của một thợ giày say rượu (giống cha của Hồ Chí Minh), với biệt danh thông dụng là «Besso khùng», cho tới năm 1917, tên Sosso trở thành Staline.

Bị đuổi khỏi chủng viện vì mê những chuyện tình dục, nhưng trong tiểu sử chánh thức, bị đuổi học vì tuyên truyền cách mạng, Staline đi làm cho Đài Khí tượng của Tdilissi. Nhưng việc đi làm chỉ là bề ngoài để che dấu một con người thiệt là một «trùm mafia».Chuyên môn của Staline là trấn lột, tống tiền, hàng nháy, bắt cóc. Ông có tay phụ tá đắc lực là Kamo luôn luôn sẳn sáng chém giết theo lệnh Staline. Mỗi lần bị tù hay bị đày qua Sibérie, Staline đều vượt ngục, nhờ cộng tác với mật vụ của Nga hoàng. Và cũng nhờ có hơn bốn mươi tên khác nhau, và nhứt là tài cải trang, giả làm phụ nữ mặc áo dài, đội tóc giả (HCM bịt râu, hóa trang, đi dự khán vụ hành quyết bà Năm, có hơn 200 tên).

Tài ba đó đã không tránh khỏi sự chú ý của Lê-nin. Năm 1905, Lê-nin gặp Staline lần đầu. Đảng cộng sản đang cần tiền và Lê–nin thấy ngay con người mà đảng đang cần, đúng là Staline.

Lê-nin kết ngay Staline và cú ngoạn mục, nổi tiếng khắp thế giới lúc bấy giờ là vụ đánh cườp ngân hàng Nhà nước ở Tbilissi tháng 6-1907, làm nhiều người thiệt mạng nhưng hốt được một vố lớn tương đương 3 triệu euros ngày nay. Lúc Staline được 28 tuổi (LE JEUNE STALINE de Simon Sebag Montefiore. Traduit de l'anglais par Jean-François Sené. Calmann-Lévy, 506 p., bản dịch, CalmânLévy, Paris).

 

Hồ Chí Minh, đệ tử chơn truyền

Hồ Chí Minh học Lê-nin làm cách mạng cướp chánh quyền nhưng chỉ cướp chánh quyền ở Thủ tướng Trần Trọng Kim trong tình trạng thực dân bị Nhựt đảo chánh, Đồng Minh chưa tới, Pháp cũng chưa trở lại. Nên nhớ đây là sự thật của Việt nam lúc đó. Và Việt nam đã hoàn toàn độc lập và thống nhứt do Hoàng Đế Bảo Đại đã nhận chánh quyền từ tay Nhựt và tuyên bố nền độc lập, hủy bỏ tất cả các Hiệp ước bất bình đẳng với Pháp.

Giờ đây, thử nhìn lại coi đảng cộng sản do Hồ Chí Minh thành lập có phải là đảng ăn cướp không?

Sau 30-04-1975, trong một buổi cán bộ đảng viên học tập nghị quyết cải tạo Miền nam, Đỗ Mười, Trưởng ban, chủ trì lớp học tập, giải nghĩa rõ cho cán bộ «Cải tạo tư sản, thực chất là ta cướp đoạt tất cả của cải, tài sản của dân  tư sản miền nam, … » (Lời Ai điếu, Lê Phú Khải,1917).

Từ sau đó cho tới nay, dân miền nam lần lượt bị đảng cướp sạch, trở thành dân oan, không nhà không cửa, không của cải, sống vật vờ, lang thang khắp nơi ngay trên quê hương của chính mình. Hai vụ nổi cộm còn đang nóng hổi tính thời sự là vụ Thủ thiêm và vụ Lộc Hưng mà hai tên cướp không ai khác hơn là 2 tên đầu xỏ đảng, Lê Thanh Hải và Nguyễn Thiện Nhân.

Nhưng đây cũng chỉ là sự nghiệp liên tục của đảng mà một trường hợp năm 1930 đáng nhắc lại như một dẩn chứng đảng cộng sản của Hồ Chí Minh lập ra là để ăn cướp.

Ngày 9 tháng 11 năm 1930, Việt nam Cộng sản đảng, viết thư tống tiền một ông Phủ, đòi 5000 đồng để trao đổi với với mạng sống của đứa con trai nạn nhơn (Vy Thanh, Ho Chi Minh, a documentary study, California 7/2019, p.250-253).

Bộ mặt thật của đảng cộng sản đang cai trị Việt nam đúng là đảng ăn cướp. Không thể gọi cách gì khác hơn được. Và Hồ Chí Minh cũng như Lê-nin, Staline, là đảng trưởng sáng lập. Nhơn dân, ở đâu, thời nào, vẫn là nạn nhơn của thứ đảng cách mạng ăn cướp này.

Nhưng rất tiếc là đảng viên không dám nhìn nhận sự thật mà cứ núp dưới danh nghĩa cách mạng. Mới thấy đảng ăn cướp cộng sản hèn hơn Thổ phỉ.

 

Nguyễn thị Cỏ May

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.