Hôm nay,  

NHỮNG GIỜ PHÚT ĐÁNG SỐNG

7/22/201911:35:00(View: 5037)

Năm Kỷ Mão (1279), sau khi tiêu diệt xong triều đại Nam Tống, nhà Nguyên chuẩn bị mở rộng cuộc xâm lăng sang các nước Đại Việt, Chiêm Thành... Lúc bấy giờ một số tàn quân và dân chúng nước Nam Tống không chịu sống dưới sự cai trị của người Mông Cổ đã theo đường biển chạy ra các nước ngoài xin tị nạn. Trong số người chạy sang Đại Việt có một số cựu tướng lãnh quân đội... Họ tự nguyện cởi giáp, nộp vũ khí, hòa nhập với thường dân Đại Việt, cần mẫn làm thuê làm mướn để sinh nhai.

Năm Giáp Thân (1284), nhà Nguyên sai thái tử Thoát Hoan cùng bọn Ô Mã Nhi, Lý Hằng, A Lý Hải Nha v.v... đem 50 vạn quân rầm rộ tiến đánh Đại Việt. Với khí thế mãnh liệt ban đầu, quân Nguyên đã lần lượt phá tan các tuyến phòng thủ của quân Đại Việt ở phía bắc rồi tiến thẳng xuống kinh đô Thăng Long. Tiết chế Quốc công Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn - tổng chỉ huy quân đội Đại Việt - phải tạm thời cho lui quân để né tránh các mũi nhọn của giặc hầu bảo toàn lực lượng. Thượng Hoàng Thánh Tông cùng vua Trần Nhân Tông phải rời Thăng Long tạm lánh về Hải Dương. 

Trong khi đó thì cánh quân thủy Mông Cổ do Hữu Thừa Toa Đô chỉ huy đã phát xuất từ Quảng Châu năm trước (1283), vượt biển đánh thẳng vào Chiêm Thành, sau đó quay ngược đánh chiếm nhiều phần đất ở Quảng Bình, Nghệ An và Thanh Hóa. Trước tình thế nguy ngập ấy, một số vương hầu của nhà Trần như Trần Ích Tắc, Trần Văn Lộng, Trần Kiện đã lần lượt ra đầu hàng quân Nguyên. 

Lúc bấy giờ Chiêu Minh Vương Thượng Tướng Trần Quang Khải và Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật là những vị được giao trách nhiệm trấn giữ phía nam Đại Việt. Hai Vương đã cố giữ chặt những phần đất còn lại đồng thời cho kêu gọi mọi thành phần dân chúng tình nguyện ra lính để cứu nước.

Hưởng ứng việc đầu quân này có hai viên cựu tướng của nhà Nam Tống đang tị nạn ở Đại Việt là Triệu Trung và Tiêu Đình Long. Hai viên tướng này đến yết kiến Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật, xin phép được kêu gọi chiêu tập những người Tống đang thất tán ở Đại Việt để sung vào quân đội. Nghe họ đề nghị như thế, Chiêu Văn Vương nghĩ ngay đến một kỳ mưu có thể thực hiện, Vương liền vui vẻ chấp thuận. Thế rồi không bao lâu Triệu Trung đã tập hợp được ngót một nghìn người. Thấy kết quả khả quan, Triệu Trung mừng lắm, bèn báo lại với Chiêu Văn Vương. Vương khen:

-Tốt lắm! Ta sẽ không quên công lao của ông.

Triệu Trung lấy cuốn danh sách số người đã tuyển mộ được dâng lên:

-Khải Đại Vương, hầu hết số người này đều là quân lính cũ. Xin giao nạp để Đại Vương tùy liệu sử dụng. 

-Được, việc này nhờ ông giúp luôn. Hãy tập trung số người đó lại để lập thành đội ngũ hẳn hoi. Đặt ra các cấp chỉ huy lớn nhỏ đàng hoàng. Về mặt tinh thần chống Nguyên của họ ắt hẳn rất cao rồi. Ta biết họ rất ghét người Nguyên nên mới chạy sang đây. Nhưng cũng cần phải huấn luyện lại họ phần nào để tăng thêm khả năng chiến đấu. Phải làm gấp vì chúng ta không còn thì giờ. Ông và Tiêu Đình Quí sẽ là người chỉ huy đội quân đó. Các ông tự làm việc ấy được chứ?

Triệu Trung lộ vẻ ngạc nhiên:

-Khải, bất cứ công việc gì nhằm tiêu diệt giặc Nguyên thì dẫu khó khăn mấy thần cũng nguyện sẽ hết lòng. Việc Đại Vương giao chúng thần tự làm được! Nhưng Đại Vương muốn chúng thần lập một đội quân toàn là người Tống sao? Thần thật chưa hiểu ý Đại Vương.

Chiêu Văn Vương cười:

-Ta đã nghĩ ra một diệu kế. Muốn thực hiện diệu kế này cần phải có một đội quân người Tống mới được. Vậy, ông cứ làm theo ý ta đi! Song song với việc tổ chức và huấn luyện đội quân ấy, ông cũng cần sưu tầm tập trung tất cả những cờ xí, y giáp mà quân sĩ Nam Tống còn giữ được. Phải trang bị đầy đủ cho đội quân Nam Tống này. Nếu còn thiếu thứ gì ta sẽ cung cấp. Ông giúp ta việc đó được chứ?

-Bẩm Đại Vương, chúng thần sẽ cố gắng!

-Vậy, ông hãy thực hiện gấp rút đi!

*

Chỉ mấy ngày sau Triệu Trung và Tiêu Đình Long đã hoàn tất nhiệm vụ. Tướng Tiêu Đình Long hướng dẫn Chiêu Văn Vương rảo khắp trại quân của người Tống vừa mới dựng. Vương đã đến với từng toán lính nhỏ để thăm hỏi, an ủi họ. Khi gặp một người Tống tuổi tác hơi già, Vương hỏi:

- Anh bao nhiêu tuổi rồi?

- Khải Đại Vương, tôi 45 tuổi.

- Liệu anh có còn sức để xông xáo trước lằn tên mũi dáo không? Anh là người nước ngoài mới tới không ai ép buộc anh. Vì sao anh lại tình nguyện ra lính?

- Khải Đại Vương, vợ tôi, con cái tôi đều bị giặc Mông tàn sát. Tôi còn lưu cái thân là để chờ ngày hôm nay. Tôi muốn trả thù chúng bằng mọi giá. Tôi sẽ cố gắng hết mình.

- Ta sẽ giúp anh hoàn thành nguyện vọng. Chúc anh may mắn!

Đi đến một toán khác thấy một thiếu niên mặt còn non choẹt, Vương hỏi:

- Em bao nhiêu tuổi? Nhà nước tuy cần người nhưng đâu kiệt quệ đến nỗi phải đưa những người như em ra mặt trận! Duyên cớ nào đã khiến em ra lính?

- Khải Đại Vương, con tuy mới 14 nhưng con không còn chờ đợi được nữa. Cha con bị giặc Mông giết, mẹ con bị chúng hiếp rồi bắt làm nô lệ. Những anh trai của con đều đã hi sinh. Con phải trả thù! Cúi xin Đại Vương thấu hiểu giúp đỡ cho con!

- Em còn trẻ mà có chí khí như vậy thật đáng khen. Tương lai em sẽ khá. Ta sẽ lưu tâm giúp đỡ em.

Vương tiếp tục đến thăm hỏi nhiều người khác nữa. Rất nhiều người đã lâm hoàn cảnh tương tự như thế. 

Qua cuộc tiếp xúc đó, Chiêu Văn Vương càng rõ đám người Tống này thù hận người Mông rất sâu sắc. Họ đều thề quyết không đội trời chung với giặc Nguyên. Như vậy là quá đủ, chẳng cần nung nấu tinh thần quyết chiến của họ thêm nữa! Thế là Vương quyết định hạ một đòn sấm sét vào tâm lý quân Mông Cổ như đã dự tính. 

Hôm sau, Vương cho đem các loại vũ khí mà người Tống quen dùng và tất cả số cờ xí, y giáp mà Triệu Trung thu thập được trang bị cho đội quân của ông ta. Số còn thừa Vương sai đem trang bị cho một số dũng sĩ Đại Việt rồi bổ sung đám dũng sĩ này vào đội quân đó luôn. Thế là một đội quân Nam Tống tạm thời thành hình. 

Kế đó, Chiêu Văn Vương lại cho người phao rầm lên là quân Nam Tống đã đuổi được quân Mông Cổ ra khỏi đất Tống và đang kéo sang giúp sức quân Đại Việt. Vương lại cố tình cho đưa một số tù binh Mông Cổ cho các tướng Nam Tống phủ dụ, mục đích là để chúng thấy sự hiện diện của của quân Nam Tống trên đất nước Đại Việt. Sau đó Vương lại cho thả những tên tù này rồi hướng dẫn cho chúng tìm về các doanh trại quân Nguyên. Thế là cái tin sốt dẻo người Tống đã diệt được quân Mông Cổ trên đất Trung Hoa không mấy chốc lan truyền trong hàng ngũ quân Nguyên. Cái tin này đã làm quân Nguyên đâm ra bồn chồn nghi hoặc mất ăn mất ngủ lo lắng không yên. 

Tháng tư năm Ất Dậu (1285) thời tiết nước ta chuyển đổi dị thường. Nhiều ngày ánh mặt trời chiếu gay gắt như muốn thiêu đốt cả mặt đất. Đội quân xâm lăng nhà Nguyên quen sống ở xứ lạnh chịu đựng cái nóng này không nổi, cứ sinh ra nhiều thứ bệnh tật. Đúng vào thời điểm đó, Tiết chế Quốc công Hưng Đạo Vương hạ lệnh cho quân Đại Việt bắt đầu phản công. 

Chiêu Văn Vương cho đội quân Nam Tống của Triệu Trung cùng xuất trận bên cạnh các đội quân Đại Việt. Đã có tin đồn quân Nam Tống sang giúp Đại Việt đi trước nên khi quân của danh tướng Toa Đô thấy trên trận tuyến Đại Việt có cả đội quân mang cờ Nam Tống xuất hiện, chúng vô cùng hoang mang hoảng sợ. Chiêu Văn Vương rất mừng khi chứng kiến những chiến sĩ người Tống này đã dồn tất cả hận thù lên mũi đao kiếm, lăn xả vào quân Nguyên. Họ reo hò vang động, chém giết hết sức tàn bạo. Quân Nguyên lớp đang bệnh hoạn, lớp đang mệt mỏi vì thiếu ăn, mất ngủ, thần kinh căng thẳng quá độ, không thể nào chống nổi, đã bị đánh tan tác dễ dàng. Chẳng bao lâu, quân Đại Việt đã dồn Toa Đô vào thế bị động để rồi kết thúc cuộc đời ngang dọc của danh tướng này ở trận Tây Kết.

Cái chết của Toa Đô đã làm cho quân dân Đại Việt vô cùng phấn khởi. Thế thắng bại của đôi bên đã phơi bày trước mắt. Để tưởng thưởng, khích lệ quân sĩ, Chiêu Văn Vương cho mở tiệc khao quân trước khi tiến ra Bắc hợp sức với đại quân của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. 

Vương cũng đặc biệt thưởng riêng cho đội quân Nam Tống một bữa tiệc liên hoan chiến thắng và chính Vương làm người khách danh dự. Để tranh thủ thời gian, Vương cho phép quân sĩ vừa ăn vừa nghe Vương hiểu dụ:

-Hỡi các Tướng lãnh, quân sĩ và con dân gốc Nam Tống có mặt ở đây! Thừa mệnh Hoàng Đế Đại Việt ta thành thật tán thán: Các ngươi là những con người trung thành với chính tổ quốc mình nhất! Các ngươi là những kẻ có tinh thần bất khuất, dũng cảm nhất! Vì không muốn đội trời chung với kẻ thù, các ngươi đã không chịu cúi đầu, đã hi sinh tất cả để lưu lạc đến Đại Việt. Nước Đại Việt vô cùng hân hoan để đón nhận những con người cao quí xứng đáng như các ngươi. Ta muốn cái gương trung, dũng, tiết, nghĩa của các ngươi được truyền đời, được duy trì mãi với con cháu các ngươi khi sống trên quê hương thứ hai này. Đáng khen nhất là khi vết thương lòng của các ngươi chưa kịp mím miệng, thân thể các ngươi còn nhừ nhuyễn, cuộc sống của các ngươi chưa được ổn định, thế mà thấy tổ quốc thứ hai của mình lâm nguy, các ngươi không cần suy tính hơn thiệt, đã hăng hái đầu quân. Các ngươi đã lao vào giặc như những hung thần để làm tan nát nhuệ khí của kẻ thù, để truyền tinh thần can đảm phấn chấn cho toàn quân toàn dân ta. Ta rất vui sướng! Ta rất hài lòng! Đợi dẹp xong giặc Mông Cổ ta sẽ tâu với Hoàng Thượng tưởng thưởng thật xứng đáng công lao của các ngươi. Ta tin tưởng các ngươi và con cháu sau này mãi mãi xứng đáng là những con dân gương mẫu của nước Đại Việt. Hoặc biết đâu, ta lại được hân hạnh giúp đỡ cho các ngươi hồi hương trong vinh quang khi bóng quân Mông Cổ không còn! Hôm nay tuy vui mừng chiến thắng, nhưng chúng ta đừng ngủ quên trên chiến thắng! Ngày mai chúng ta còn phải Bắc tiến để quét sạch quân tham tàn ra khỏi bờ cõi! Vậy, các ngươi hãy cùng ta hô khẩu hiệu để nhắc nhở công việc mà chúng ta chưa hoàn tất: 

- Sát Thát! 

- Sát Thát! 

- Sát Thát!

Tiếng hô Sát Thát vang động cả một phương trời. 

Sau lời hiểu dụ của Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật, tướng Triệu Trung xin thay mặt đám quân dân người Tống bày tỏ lòng tri ân:

"Thái Thượng Hoàng Đại Việt vạn tuế! Vạn vạn tuế!

"Hoàng Đế Đại Việt vạn tuế! Vạn vạn tuế!

"Chiêu Văn Đại Vương thiên tuế!

"Chúng tôi, những con dân nước Nam Tống bất hạnh lâm cảnh nước mất nhà tan, phải đem thân lưu lạc cầu sống xứ người. May mắn chúng tôi đến Đại Việt, quả thật chúng tôi đã chọn chỗ không lầm. Chúng tôi đã được quân dân Đại Việt đưa bàn tay từ ái để đón nhận. Chúng tôi vô cùng tri ân tấm lòng cao cả của dân tộc Đại Việt. Chúng tôi hi vọng sẽ được sống quãng đời còn lại trong yên lành dưới sự bao dung che chở của dân tộc Đại Việt. Chúng tôi nguyện sẽ đem những tinh hoa chúng tôi hấp thụ được từ phương bắc đóng góp hòa nhập với địa phương để cùng nhau xây dựng một xã hội tiến bộ, để đáp ơn tri ngộ của tổ quốc Đại Việt. Nhưng chúng tôi ngồi chưa ấm chiếu thì kẻ thù đã tìm theo đến nơi. Vốn quen chiến đấu trong một quân đội oai hùng một thuở, khi đã buông vũ khí, khi lột bỏ quân phục, lòng chúng tôi đau đớn tan nát như thế nào không thể dùng lời mà tả được. Nhiều người trong chúng tôi đã phải tự sát. Nhiều người trong chúng tôi đã phải phát điên. Nhiều người trong chúng tôi đã khóc chảy máu mắt. Chúng tôi nghĩ rằng từ đấy sẽ không còn cơ hội, không ai cho phép mình cầm vũ khí theo đúng nghĩa một quân nhân nữa. Nhưng ông trời có mắt, chính Chiêu Văn Đại Vương, như một bậc cha già cao cả, đã đặc biệt cho chúng tôi hưởng một cơ hội ngàn vàng. Đại Vương đã cho chúng tôi sống lại những giờ phút mà ngàn đời chúng tôi không bao giờ quên được! Đó là giờ phút mà chúng tôi được chiến đấu với khí thế oai hùng của quân đội dưới cờ Nam Tống như trước kia. Chính lá cờ, chính chiêng trống, chính quân phục, chính vũ khí, và chính kẻ thù Mông Cổ cũng đều là của Nam Tống đã khiến chúng tôi quên mình mà chiến đấu! Cám ơn Tổ quốc Đại Việt! Cám ơn Chiêu Văn Đại Vương đã cho chúng tôi sống lại những giờ phút này! Những giờ phút mà trước đây chúng tôi không dám mong ước, không dám nghĩ tới! Những giờ phút mà chúng tôi tưởng như chỉ còn có trong mộng! Chỉ một thời gian ngắn thôi mà như một kiếp tái sinh! Chính những giờ phút này chúng tôi đã rửa được rất nhiều hận thù! Sau những giờ phút này dù phải chết đi chúng tôi cũng thỏa mãn! Cám ơn Tổ quốc Đại Việt! Cám ơn dân tộc Đại Việt! Chúng tôi đã được sống những giờ phút rất đáng sống! Hôm nay! Hôm nay! ...

Tướng Triệu Trung còn muốn nói nhiều nữa nhưng nước mắt ông trào ra và giọng ông nghẹn ngào không cất lên được. Lúc đó giữa đám quân nhân cũng dậy lên nhiều tiếng thổn thức, nức nở xen lẫn nhiều tiếng hô:

- Cám ơn Tổ quốc Đại Việt đã cho chúng tôi sống lại những giờ phút thật ý nghĩa!

- Cám ơn Chiêu Văn Đại Vương đã cho chúng tôi sống lại những giờ phút thật ý nghĩa! 

-Cám ơn Đại Việt đã tạo điều kiện cho chúng tôi rửa nhục!

Số quân sĩ còn giữ được bình tĩnh thì cứ vươn tay hô vang rân từng nhịp những câu tri ân nước Đại Việt. Tiếp đó những người lính Nam Tống đã ôm nhau khóc nức nở... hoặc nhảy múa loạn cuồng. Người ta nghe những âm thanh uất nghẹn phát đi từ cuống họng những người quá xúc động vì sung sướng hay vì tiếc nuối:

- Thật là những giờ phút đáng sống!

- Ôi bao giờ ta gặp lại một ngày như hôm nay?

- Cám ơn Đại Việt đã cho chúng tôi những giờ phút đáng sống này!

- Biết bao giờ có lại những giờ phút như hôm nay? 

- Ngàn đời nhớ ơn dân tộc Đại Việt!

- Ngàn đời nhớ ơn dân tộc Đại Việt!

Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật lặng lẽ nhìn đám quân nhân gốc Nam Tống đang khóc cười nhảy múa thác loạn với vẻ mặt bao dung, thông cảm. Vương nghĩ họ đang sống với cảm giác của những kẻ sắp chết chìm giữa biển cả bỗng thấy con tàu cứu tinh hiện ra trước mắt. Vương nhớ lại câu vương đã nói với họ "Biết đâu ta lại được hân hạnh giúp đỡ cho các ngươi hồi hương trong vinh quang!". Có thể những lời nói mang tính xã giao của Vương đã biến thành niềm tin tưởng của những người lính Nam Tống lưu vong. Vương cảm động tự nhủ "Các ngươi có những giờ phút đáng sống thì ta cũng có những giờ phút đáng sống!". Đôi mắt Vương có vẻ cười nhưng cũng long lanh ngấn lệ.


Ngô Viết Trọng 




Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.