Hôm nay,  

NHỮNG GIỜ PHÚT ĐÁNG SỐNG

22/07/201911:35:00(Xem: 5188)

Năm Kỷ Mão (1279), sau khi tiêu diệt xong triều đại Nam Tống, nhà Nguyên chuẩn bị mở rộng cuộc xâm lăng sang các nước Đại Việt, Chiêm Thành... Lúc bấy giờ một số tàn quân và dân chúng nước Nam Tống không chịu sống dưới sự cai trị của người Mông Cổ đã theo đường biển chạy ra các nước ngoài xin tị nạn. Trong số người chạy sang Đại Việt có một số cựu tướng lãnh quân đội... Họ tự nguyện cởi giáp, nộp vũ khí, hòa nhập với thường dân Đại Việt, cần mẫn làm thuê làm mướn để sinh nhai.

Năm Giáp Thân (1284), nhà Nguyên sai thái tử Thoát Hoan cùng bọn Ô Mã Nhi, Lý Hằng, A Lý Hải Nha v.v... đem 50 vạn quân rầm rộ tiến đánh Đại Việt. Với khí thế mãnh liệt ban đầu, quân Nguyên đã lần lượt phá tan các tuyến phòng thủ của quân Đại Việt ở phía bắc rồi tiến thẳng xuống kinh đô Thăng Long. Tiết chế Quốc công Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn - tổng chỉ huy quân đội Đại Việt - phải tạm thời cho lui quân để né tránh các mũi nhọn của giặc hầu bảo toàn lực lượng. Thượng Hoàng Thánh Tông cùng vua Trần Nhân Tông phải rời Thăng Long tạm lánh về Hải Dương. 

Trong khi đó thì cánh quân thủy Mông Cổ do Hữu Thừa Toa Đô chỉ huy đã phát xuất từ Quảng Châu năm trước (1283), vượt biển đánh thẳng vào Chiêm Thành, sau đó quay ngược đánh chiếm nhiều phần đất ở Quảng Bình, Nghệ An và Thanh Hóa. Trước tình thế nguy ngập ấy, một số vương hầu của nhà Trần như Trần Ích Tắc, Trần Văn Lộng, Trần Kiện đã lần lượt ra đầu hàng quân Nguyên. 

Lúc bấy giờ Chiêu Minh Vương Thượng Tướng Trần Quang Khải và Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật là những vị được giao trách nhiệm trấn giữ phía nam Đại Việt. Hai Vương đã cố giữ chặt những phần đất còn lại đồng thời cho kêu gọi mọi thành phần dân chúng tình nguyện ra lính để cứu nước.

Hưởng ứng việc đầu quân này có hai viên cựu tướng của nhà Nam Tống đang tị nạn ở Đại Việt là Triệu Trung và Tiêu Đình Long. Hai viên tướng này đến yết kiến Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật, xin phép được kêu gọi chiêu tập những người Tống đang thất tán ở Đại Việt để sung vào quân đội. Nghe họ đề nghị như thế, Chiêu Văn Vương nghĩ ngay đến một kỳ mưu có thể thực hiện, Vương liền vui vẻ chấp thuận. Thế rồi không bao lâu Triệu Trung đã tập hợp được ngót một nghìn người. Thấy kết quả khả quan, Triệu Trung mừng lắm, bèn báo lại với Chiêu Văn Vương. Vương khen:

-Tốt lắm! Ta sẽ không quên công lao của ông.

Triệu Trung lấy cuốn danh sách số người đã tuyển mộ được dâng lên:

-Khải Đại Vương, hầu hết số người này đều là quân lính cũ. Xin giao nạp để Đại Vương tùy liệu sử dụng. 

-Được, việc này nhờ ông giúp luôn. Hãy tập trung số người đó lại để lập thành đội ngũ hẳn hoi. Đặt ra các cấp chỉ huy lớn nhỏ đàng hoàng. Về mặt tinh thần chống Nguyên của họ ắt hẳn rất cao rồi. Ta biết họ rất ghét người Nguyên nên mới chạy sang đây. Nhưng cũng cần phải huấn luyện lại họ phần nào để tăng thêm khả năng chiến đấu. Phải làm gấp vì chúng ta không còn thì giờ. Ông và Tiêu Đình Quí sẽ là người chỉ huy đội quân đó. Các ông tự làm việc ấy được chứ?

Triệu Trung lộ vẻ ngạc nhiên:

-Khải, bất cứ công việc gì nhằm tiêu diệt giặc Nguyên thì dẫu khó khăn mấy thần cũng nguyện sẽ hết lòng. Việc Đại Vương giao chúng thần tự làm được! Nhưng Đại Vương muốn chúng thần lập một đội quân toàn là người Tống sao? Thần thật chưa hiểu ý Đại Vương.

Chiêu Văn Vương cười:

-Ta đã nghĩ ra một diệu kế. Muốn thực hiện diệu kế này cần phải có một đội quân người Tống mới được. Vậy, ông cứ làm theo ý ta đi! Song song với việc tổ chức và huấn luyện đội quân ấy, ông cũng cần sưu tầm tập trung tất cả những cờ xí, y giáp mà quân sĩ Nam Tống còn giữ được. Phải trang bị đầy đủ cho đội quân Nam Tống này. Nếu còn thiếu thứ gì ta sẽ cung cấp. Ông giúp ta việc đó được chứ?

-Bẩm Đại Vương, chúng thần sẽ cố gắng!

-Vậy, ông hãy thực hiện gấp rút đi!

*

Chỉ mấy ngày sau Triệu Trung và Tiêu Đình Long đã hoàn tất nhiệm vụ. Tướng Tiêu Đình Long hướng dẫn Chiêu Văn Vương rảo khắp trại quân của người Tống vừa mới dựng. Vương đã đến với từng toán lính nhỏ để thăm hỏi, an ủi họ. Khi gặp một người Tống tuổi tác hơi già, Vương hỏi:

- Anh bao nhiêu tuổi rồi?

- Khải Đại Vương, tôi 45 tuổi.

- Liệu anh có còn sức để xông xáo trước lằn tên mũi dáo không? Anh là người nước ngoài mới tới không ai ép buộc anh. Vì sao anh lại tình nguyện ra lính?

- Khải Đại Vương, vợ tôi, con cái tôi đều bị giặc Mông tàn sát. Tôi còn lưu cái thân là để chờ ngày hôm nay. Tôi muốn trả thù chúng bằng mọi giá. Tôi sẽ cố gắng hết mình.

- Ta sẽ giúp anh hoàn thành nguyện vọng. Chúc anh may mắn!

Đi đến một toán khác thấy một thiếu niên mặt còn non choẹt, Vương hỏi:

- Em bao nhiêu tuổi? Nhà nước tuy cần người nhưng đâu kiệt quệ đến nỗi phải đưa những người như em ra mặt trận! Duyên cớ nào đã khiến em ra lính?

- Khải Đại Vương, con tuy mới 14 nhưng con không còn chờ đợi được nữa. Cha con bị giặc Mông giết, mẹ con bị chúng hiếp rồi bắt làm nô lệ. Những anh trai của con đều đã hi sinh. Con phải trả thù! Cúi xin Đại Vương thấu hiểu giúp đỡ cho con!

- Em còn trẻ mà có chí khí như vậy thật đáng khen. Tương lai em sẽ khá. Ta sẽ lưu tâm giúp đỡ em.

Vương tiếp tục đến thăm hỏi nhiều người khác nữa. Rất nhiều người đã lâm hoàn cảnh tương tự như thế. 

Qua cuộc tiếp xúc đó, Chiêu Văn Vương càng rõ đám người Tống này thù hận người Mông rất sâu sắc. Họ đều thề quyết không đội trời chung với giặc Nguyên. Như vậy là quá đủ, chẳng cần nung nấu tinh thần quyết chiến của họ thêm nữa! Thế là Vương quyết định hạ một đòn sấm sét vào tâm lý quân Mông Cổ như đã dự tính. 

Hôm sau, Vương cho đem các loại vũ khí mà người Tống quen dùng và tất cả số cờ xí, y giáp mà Triệu Trung thu thập được trang bị cho đội quân của ông ta. Số còn thừa Vương sai đem trang bị cho một số dũng sĩ Đại Việt rồi bổ sung đám dũng sĩ này vào đội quân đó luôn. Thế là một đội quân Nam Tống tạm thời thành hình. 

Kế đó, Chiêu Văn Vương lại cho người phao rầm lên là quân Nam Tống đã đuổi được quân Mông Cổ ra khỏi đất Tống và đang kéo sang giúp sức quân Đại Việt. Vương lại cố tình cho đưa một số tù binh Mông Cổ cho các tướng Nam Tống phủ dụ, mục đích là để chúng thấy sự hiện diện của của quân Nam Tống trên đất nước Đại Việt. Sau đó Vương lại cho thả những tên tù này rồi hướng dẫn cho chúng tìm về các doanh trại quân Nguyên. Thế là cái tin sốt dẻo người Tống đã diệt được quân Mông Cổ trên đất Trung Hoa không mấy chốc lan truyền trong hàng ngũ quân Nguyên. Cái tin này đã làm quân Nguyên đâm ra bồn chồn nghi hoặc mất ăn mất ngủ lo lắng không yên. 

Tháng tư năm Ất Dậu (1285) thời tiết nước ta chuyển đổi dị thường. Nhiều ngày ánh mặt trời chiếu gay gắt như muốn thiêu đốt cả mặt đất. Đội quân xâm lăng nhà Nguyên quen sống ở xứ lạnh chịu đựng cái nóng này không nổi, cứ sinh ra nhiều thứ bệnh tật. Đúng vào thời điểm đó, Tiết chế Quốc công Hưng Đạo Vương hạ lệnh cho quân Đại Việt bắt đầu phản công. 

Chiêu Văn Vương cho đội quân Nam Tống của Triệu Trung cùng xuất trận bên cạnh các đội quân Đại Việt. Đã có tin đồn quân Nam Tống sang giúp Đại Việt đi trước nên khi quân của danh tướng Toa Đô thấy trên trận tuyến Đại Việt có cả đội quân mang cờ Nam Tống xuất hiện, chúng vô cùng hoang mang hoảng sợ. Chiêu Văn Vương rất mừng khi chứng kiến những chiến sĩ người Tống này đã dồn tất cả hận thù lên mũi đao kiếm, lăn xả vào quân Nguyên. Họ reo hò vang động, chém giết hết sức tàn bạo. Quân Nguyên lớp đang bệnh hoạn, lớp đang mệt mỏi vì thiếu ăn, mất ngủ, thần kinh căng thẳng quá độ, không thể nào chống nổi, đã bị đánh tan tác dễ dàng. Chẳng bao lâu, quân Đại Việt đã dồn Toa Đô vào thế bị động để rồi kết thúc cuộc đời ngang dọc của danh tướng này ở trận Tây Kết.

Cái chết của Toa Đô đã làm cho quân dân Đại Việt vô cùng phấn khởi. Thế thắng bại của đôi bên đã phơi bày trước mắt. Để tưởng thưởng, khích lệ quân sĩ, Chiêu Văn Vương cho mở tiệc khao quân trước khi tiến ra Bắc hợp sức với đại quân của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. 

Vương cũng đặc biệt thưởng riêng cho đội quân Nam Tống một bữa tiệc liên hoan chiến thắng và chính Vương làm người khách danh dự. Để tranh thủ thời gian, Vương cho phép quân sĩ vừa ăn vừa nghe Vương hiểu dụ:

-Hỡi các Tướng lãnh, quân sĩ và con dân gốc Nam Tống có mặt ở đây! Thừa mệnh Hoàng Đế Đại Việt ta thành thật tán thán: Các ngươi là những con người trung thành với chính tổ quốc mình nhất! Các ngươi là những kẻ có tinh thần bất khuất, dũng cảm nhất! Vì không muốn đội trời chung với kẻ thù, các ngươi đã không chịu cúi đầu, đã hi sinh tất cả để lưu lạc đến Đại Việt. Nước Đại Việt vô cùng hân hoan để đón nhận những con người cao quí xứng đáng như các ngươi. Ta muốn cái gương trung, dũng, tiết, nghĩa của các ngươi được truyền đời, được duy trì mãi với con cháu các ngươi khi sống trên quê hương thứ hai này. Đáng khen nhất là khi vết thương lòng của các ngươi chưa kịp mím miệng, thân thể các ngươi còn nhừ nhuyễn, cuộc sống của các ngươi chưa được ổn định, thế mà thấy tổ quốc thứ hai của mình lâm nguy, các ngươi không cần suy tính hơn thiệt, đã hăng hái đầu quân. Các ngươi đã lao vào giặc như những hung thần để làm tan nát nhuệ khí của kẻ thù, để truyền tinh thần can đảm phấn chấn cho toàn quân toàn dân ta. Ta rất vui sướng! Ta rất hài lòng! Đợi dẹp xong giặc Mông Cổ ta sẽ tâu với Hoàng Thượng tưởng thưởng thật xứng đáng công lao của các ngươi. Ta tin tưởng các ngươi và con cháu sau này mãi mãi xứng đáng là những con dân gương mẫu của nước Đại Việt. Hoặc biết đâu, ta lại được hân hạnh giúp đỡ cho các ngươi hồi hương trong vinh quang khi bóng quân Mông Cổ không còn! Hôm nay tuy vui mừng chiến thắng, nhưng chúng ta đừng ngủ quên trên chiến thắng! Ngày mai chúng ta còn phải Bắc tiến để quét sạch quân tham tàn ra khỏi bờ cõi! Vậy, các ngươi hãy cùng ta hô khẩu hiệu để nhắc nhở công việc mà chúng ta chưa hoàn tất: 

- Sát Thát! 

- Sát Thát! 

- Sát Thát!

Tiếng hô Sát Thát vang động cả một phương trời. 

Sau lời hiểu dụ của Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật, tướng Triệu Trung xin thay mặt đám quân dân người Tống bày tỏ lòng tri ân:

"Thái Thượng Hoàng Đại Việt vạn tuế! Vạn vạn tuế!

"Hoàng Đế Đại Việt vạn tuế! Vạn vạn tuế!

"Chiêu Văn Đại Vương thiên tuế!

"Chúng tôi, những con dân nước Nam Tống bất hạnh lâm cảnh nước mất nhà tan, phải đem thân lưu lạc cầu sống xứ người. May mắn chúng tôi đến Đại Việt, quả thật chúng tôi đã chọn chỗ không lầm. Chúng tôi đã được quân dân Đại Việt đưa bàn tay từ ái để đón nhận. Chúng tôi vô cùng tri ân tấm lòng cao cả của dân tộc Đại Việt. Chúng tôi hi vọng sẽ được sống quãng đời còn lại trong yên lành dưới sự bao dung che chở của dân tộc Đại Việt. Chúng tôi nguyện sẽ đem những tinh hoa chúng tôi hấp thụ được từ phương bắc đóng góp hòa nhập với địa phương để cùng nhau xây dựng một xã hội tiến bộ, để đáp ơn tri ngộ của tổ quốc Đại Việt. Nhưng chúng tôi ngồi chưa ấm chiếu thì kẻ thù đã tìm theo đến nơi. Vốn quen chiến đấu trong một quân đội oai hùng một thuở, khi đã buông vũ khí, khi lột bỏ quân phục, lòng chúng tôi đau đớn tan nát như thế nào không thể dùng lời mà tả được. Nhiều người trong chúng tôi đã phải tự sát. Nhiều người trong chúng tôi đã phải phát điên. Nhiều người trong chúng tôi đã khóc chảy máu mắt. Chúng tôi nghĩ rằng từ đấy sẽ không còn cơ hội, không ai cho phép mình cầm vũ khí theo đúng nghĩa một quân nhân nữa. Nhưng ông trời có mắt, chính Chiêu Văn Đại Vương, như một bậc cha già cao cả, đã đặc biệt cho chúng tôi hưởng một cơ hội ngàn vàng. Đại Vương đã cho chúng tôi sống lại những giờ phút mà ngàn đời chúng tôi không bao giờ quên được! Đó là giờ phút mà chúng tôi được chiến đấu với khí thế oai hùng của quân đội dưới cờ Nam Tống như trước kia. Chính lá cờ, chính chiêng trống, chính quân phục, chính vũ khí, và chính kẻ thù Mông Cổ cũng đều là của Nam Tống đã khiến chúng tôi quên mình mà chiến đấu! Cám ơn Tổ quốc Đại Việt! Cám ơn Chiêu Văn Đại Vương đã cho chúng tôi sống lại những giờ phút này! Những giờ phút mà trước đây chúng tôi không dám mong ước, không dám nghĩ tới! Những giờ phút mà chúng tôi tưởng như chỉ còn có trong mộng! Chỉ một thời gian ngắn thôi mà như một kiếp tái sinh! Chính những giờ phút này chúng tôi đã rửa được rất nhiều hận thù! Sau những giờ phút này dù phải chết đi chúng tôi cũng thỏa mãn! Cám ơn Tổ quốc Đại Việt! Cám ơn dân tộc Đại Việt! Chúng tôi đã được sống những giờ phút rất đáng sống! Hôm nay! Hôm nay! ...

Tướng Triệu Trung còn muốn nói nhiều nữa nhưng nước mắt ông trào ra và giọng ông nghẹn ngào không cất lên được. Lúc đó giữa đám quân nhân cũng dậy lên nhiều tiếng thổn thức, nức nở xen lẫn nhiều tiếng hô:

- Cám ơn Tổ quốc Đại Việt đã cho chúng tôi sống lại những giờ phút thật ý nghĩa!

- Cám ơn Chiêu Văn Đại Vương đã cho chúng tôi sống lại những giờ phút thật ý nghĩa! 

-Cám ơn Đại Việt đã tạo điều kiện cho chúng tôi rửa nhục!

Số quân sĩ còn giữ được bình tĩnh thì cứ vươn tay hô vang rân từng nhịp những câu tri ân nước Đại Việt. Tiếp đó những người lính Nam Tống đã ôm nhau khóc nức nở... hoặc nhảy múa loạn cuồng. Người ta nghe những âm thanh uất nghẹn phát đi từ cuống họng những người quá xúc động vì sung sướng hay vì tiếc nuối:

- Thật là những giờ phút đáng sống!

- Ôi bao giờ ta gặp lại một ngày như hôm nay?

- Cám ơn Đại Việt đã cho chúng tôi những giờ phút đáng sống này!

- Biết bao giờ có lại những giờ phút như hôm nay? 

- Ngàn đời nhớ ơn dân tộc Đại Việt!

- Ngàn đời nhớ ơn dân tộc Đại Việt!

Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật lặng lẽ nhìn đám quân nhân gốc Nam Tống đang khóc cười nhảy múa thác loạn với vẻ mặt bao dung, thông cảm. Vương nghĩ họ đang sống với cảm giác của những kẻ sắp chết chìm giữa biển cả bỗng thấy con tàu cứu tinh hiện ra trước mắt. Vương nhớ lại câu vương đã nói với họ "Biết đâu ta lại được hân hạnh giúp đỡ cho các ngươi hồi hương trong vinh quang!". Có thể những lời nói mang tính xã giao của Vương đã biến thành niềm tin tưởng của những người lính Nam Tống lưu vong. Vương cảm động tự nhủ "Các ngươi có những giờ phút đáng sống thì ta cũng có những giờ phút đáng sống!". Đôi mắt Vương có vẻ cười nhưng cũng long lanh ngấn lệ.


Ngô Viết Trọng 




Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.