Hôm nay,  

Hai thời gian

14/07/201903:45:00(Xem: 7214)

Hồ Thanh Nhã

 

       Hai thời gian

 

Anh ở Trung Đông về nghỉ phép

Nét vui rạng rỡ áo hoa rừng

Đẹp đôi cô bạn…dài đuôi tóc

Có nụ cười tươi mặt sáng trưng

 

Nầy anh lính chiến đồng hương trẻ!

Vào cash tiền xong nhớ lẹ ra

Kể chuyện hai năm …miền đất lạ

Buồn vui đời lính chiến trường xa

 

Ngân hàng không đổi tiền Iraq

Thì giữ dành cho…chuyến trở qua

Cũng đủ mua vui vài tiếng bạc

Giải khuây đời lính lúc xa nhà

 

Đoàn anh tham chiến vùng Tikrit

Sa mạc dài theo ống dẫn dầu

Đối mặt ruồi vàng bom tự sát

Nước khan mìn bẫy…nản lòng sao?

 

Bên trong pháo tháp tia hồng ngoại

Nhìn rõ xa xa dấu lạc đà

Chi đội kích đêm chờ bão cát

Buồn nghe muôn dăm bước quan hà

 

Nửa đêm thức giấc trong lều vải

Nhớ quá người yêu cách đại dương

Chiến cuộc dài thêm…dài nỗi nhớ

Viễn chinh đôi lứa rẽ đôi đường

 

Chuyện anh thế đấy…làm tôi nhớ

Cái nhớ miên man lặng cả người

Tôi thấy qua anh…là quá khứ

Một thời ừ nhỉ! Một thời thôi…

 

Ở anh tôi thấy ta là một

Cũng chiến trường xa cũng nhớ nhà

Mạng sống như treo đầu sợi tóc

Mà lòng vẫn nhớ…bóng người xa

 

                Hồ Thanh Nhã.

 

 

 

        Chiến dịch Bão táp sa mạc đánh Iraq năm 1,991 của Mỹ

 

Chiến tranh vùng Vịnh Ba Tư năm 1,991 ( cũng gọi là Chiến dịch Bảo táp sa mạc ) là cuộc xung đột giữa Iraq và liên quân 34 quốc gia do Hoa Kỳ lãnh đạo, được Liên Hiệp Quốc phê chuẩn để giãi phóng Kuwait khỏi sự chiếm đóng của Iraq.

Năm 1,990, Tổng thống Iraq lúc đó là Saddam Hussein tố cáo nước láng giềng là Kuwait bí mật hút dầu thô của nước ông từ mỏ dầu tranh chấp Rumaila.Ngày 1 tháng 8 năm 1,990, Iraq yêu cầu Kuwait xóa các khoản nợ chiến tranh và thanh toán 2,5 tỉ USD đền bù cho lượng dầu sản xuất ở mỏ Rumaila. Khi Kuwait từ chối yêu cầu đó, thì quân đội Iraq lập tức chiếm đóng nước nầy ngay ngày hôm sau.Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc ra nghị quyết yêu cầu Iraq rút quân ngay khỏi Kuwait trước ngày 15 tháng 1 năm 1,991. Đồng thời áp đặt đặt lịnh trừng phạt kinh tế đối với chánh quyền Baghdad.

Theo nghị quyết nầy của Liên Hiệp Quốc, một liên minh quân sự gồm 34 nước trừ Nga được thành lập do Mỹ lãnh đạo. Nhưng Iraq  ngoan cố không thi hành nghị quyết, vẫn đóng quân ở Kuwait.Quá thời hạn của Liên Hiệp Quốc đề ra, lúc 0 giờ ngày 17 tháng 1 năm 1,991, liên quân 34 nước mỡ màn Chiến dịch Bảo táp sa mạc, tấn công lực lượng Vệ binh cộng hòa của Iraq đang trú đóng trên lãnh thổ Kuwait. Chiến dịch nầy kéo dài 41 ngày, bao gồm cuộc tấn công bằng không lực và hải pháo từ ngày 17 tháng 1 đến 23 tháng 2 năm 1,991 với lực lượng 2 ngàn máy bay và hàng trăm chiến hạm tham chiến. Sau đó là cuộc tấn công trên bộ với sự tham chiến của 600 ngàn quân đồng minh với 4 ngàn xe tăng, 3,700 đại pháo trên mặt đất và 100 chiến hạm của Mỹ yểm trợ và phong tỏa vùng Vịnh Ba Tư. Cuộc giao tranh trên bộ bắt đầu vào ngày 24 tháng 2 năm 1,991 với lực lượng đầu tiên là 2 tiểu đoàn của Sư Đoàn 82 Dù của Mỹ  trực thăng vận đổ bộ vào phía Nam của thủ đô Kuwait, sau lưng lực lượng Vệ binh cộng hòa Iraq, mỡ màn cuộc tấn công trên bộ. Cùng lúc đó, các cuộc đổ bộ khác trong vùng biển chiến thuật đồng được tiến hành trên các đảo duyên hải và nhiều khu vực ở bờ biển phía Đông Kuwait. Vào cuối ngày 24 tháng 2 năm 1,991 liên quân đã tiến sâu vào nước Kuwait được 48 km. Ngày 25 tháng 2 năm 1,991, lên quân đã chọc thủng được các vị trí phòng thủ của các quân đoàn 3 và 4 của Iraq trên lãnh thổ Kuwait. Một cầu không vận bằng trực thăng đã được thiết lập để tiếp vận cho cuộc tấn công vào khu vực Basra. Ngày hôm sau liên quân  chiếm được thành phố Kuwait.Trực thăng đổ 2 tiểu đoàn án ngử xa lộ Basra và Iraq, chận đường về của đoàn quân xâm lăng Iraq. Kuwait hoàn toàn được giải phóng vào ngày 27 tháng 2 nắm 1,991. Liên quân giao chiến dử dội với lực lượng Vệ binh Cộng hòa Iraq trong nhiều khu vực ở Basra. Quân đội Iraq bắt đầu nhanh chóng rút lui trong hổn loạn. Thiệt hại về phía Iraq là hàng chục ngàn người chết trong 41 ngày giao chiến. Trong khi đó lực lượng liên quân có 300 người chết và khoảng 600 người bị thương. Giao tranh tạm ngừng vào ngày 28 tháng 2 nắm,1,991. Một thỏa thuận ngưng bắn được ký kết ngày 6 tháng 3 năm 1,991, chấm dứt chiến dịch Bảo táp sa mạc ở Vịnh Ba Tư. Sau đây xin mời quí độc giả thưởng thức một bài thơ khác của tác giả :

 

 

           CHUNG và RIÊNG.

 

Nắm tiền lẻ gầm bàn

Cho hai cà phê đá

Sợ anh không tiền trả

Nhín gói quà điểm tâm

 

Mấy ngón tay chạm tay

Dưới gầm bàn thân ái

Mai sau còn nhớ mãi

Thứ bảy nào mưa bay?

 

Hai xe đạp nhanh nhanh

Chiều tan trường nhẹ gió

Lá me bay vàng đỏ

Rụng đôi bờ tóc xanh

 

Chung một xóm ngoại ô

Đi về con hẻm nhỏ

Tiếng chim quyên đầu gió

Man mác tình ấu thơ

 

Cùng tốt nghiệp ra trường

Chung một niềm mơ ước

Làm sao mà biết được

Tuổi đá vàng khói sương?

 

Mừng nhau ly rượu đầy

Ảnh chụp chung bàn cưới

Một lần chung…lần cuối

Em bây giờ của ai?

 

Mười lăm năm không gặp

Còn gì chung nhau đây 

Đường em sao thẳng tắp

Đường anh mưa gió bay?

 

Góc trời riêng cách biệt

Đường đời không có nhau

Mùa phong vàng lá chết

Nhớ gì cơn mưa Ngâu?

 

Một lần mong ước nhỏ

Khung trời chung có nhau

Tiếng chim quyên đầu gió

Còn nghe chung năm nào …

 

        Hồ Thanh Nhã.

 

  

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Do đó, chỉ khi nào người dân được quyền trực tiếp chọn Lãnh đạo qua bầu cử tự do, công bằng và dân chủ thì khi ấy những kẻ bất tài, có thành tích xấu, hay chỉ biết thu vét cho đầy túi tham, lợi ích nhóm hay làm tay sai cho Ngoại bang mới bị loại khỏi đội ngũ cầm quyền. Ngược lại, nếu vẫn tiếp tục chọn người theo thông lệ “đảng cử dân bầu” hay “đảng chọn, cán bộ bỏ phiếu” thì có trăm năm, nhân dân Việt Nam vẫn chưa tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.
Thây xác trưng ra đó / Còn chưa đủ thối inh? / Mua chi thêm bầy ngựa / Cứt vung cả Ba Đình! - Trần Bang
Tôi sinh ra trong một cái xóm rất nghèo, và (tất nhiên) rất đông trẻ nhỏ. Cùng lứa với tôi, có cả tá nhi đồng mà tên gọi đều bắt đầu bằng chữ út: Út lé, Út lác, Út lồi, Út lùn, Út hô, Út còi, Út ghẻ, Út mập, Út sún, Út sứt, Út méo, Út hô, Út đen, Út ruồi, Út xẹo, Út trọc … Cứ theo cách thấy mặt đặt tên như vậy, người ta có thể nhận dạng và biết được thứ tự của đứa bé trong gia đình mà khỏi phải giới thiệu (lôi thôi) kiểu cách, theo kiểu Âu Tây: – Còn đây là thằng út, nó tên là Út rỗ. Vùa lọt lòng thì cháu rơi ngay vào một cái … thùng đinh! Riêng trường hợp của tôi thì hơi (bị) khác. Tôi tên Út khùng. Lý do: khi mới chập chững biết đi, tôi té giếng. Khi tìm ra con, nắm tóc kéo lên, thấy thằng nhỏ mặt mày tím ngắt, chân tay xụi lơ, bụng chương xình, má tôi chỉ kêu lên được một tiếng “rồi” và lăn ra bất tỉnh.
Chúng ta thấy gì qua những cuộc biểu tình và bạo lực tiếp theo sau cái chết của người thanh niên da đen George Floyd bị người cảnh sát da trắng Derek Chavin dùng đầu gối đè cổ nghẹt thở chiều ngày 25-5-2020 tại thành phố Minneapolis, bang Minnesota? Hàng trăm cánh sát dã chiến với trang bị tác chiến và măt nạ chống khói độc đối đầu với hàng ngàn người biểu tình đòi công lý cho George Floyd và đòi được sống bình đẳng với người Mỹ da trắng. Đó là cuộc đấu tranh chính đáng chống lại áp bức, chống lại bất công của một xã hội đa chủng đa văn hóa như nước Mỹ.
Có vài kinh điển đã nói đến chiến tranh và dùng bạo lực để trừng phạt, nhưng tìm cách biến đổi quan điểm thông thường của thế gian là bạo lực cũng đôi khi cần thiết bằng cách là đối thoại với một lý tưởng không dùng bạo lực. Về điểm này, Phật có nói đến mình như một người xuất thân từ giai cấp lãnh chuá. Trong hai bài pháp ngắn, Phật có bình luận về hai cuộc chiến xảy ra khi ác vương A Xà Thế, Ajàtasattu, tấn công vào lãnh thỗ của chú mình là vua Ba Tư Nặc, Pasenadi, cũng là một tín đồ của Ngài, và được coi như là người luôn làm việc thiện. Trong cuộc chiến đấu tiên, vua Pasenadi bị đánh bại và rút lui. Đức Phật có suy nghĩ về sự bất hạnh này và ngài nói rằng: “Chiến thắng gieo thêm hận thù, người bại trận sống trong đau khổ. Hạnh phúc thay cho một đời sống an hoà, từ bỏ đưọc mọi chuyện thắng thua. Điều này cho thấy rõ rằng sự chinh phục đem lại bi đát cho người thua cuộc mà chỉ đưa tới thù hận và dường như chỉ muốn chinh phục lại kẻ chinh phục.”
Chiều ngày 29/5 sau phiên xử phúc thẩm, một người dân ở xã Bình Phước, ông Lương Hữu Phước, đã trở lại toà án và nhảy từ lầu hai của toà để tự sát. Hình ảnh ông nằm chết, co quắp ngay trước sân toà nói lên nỗi tuyệt vọng, sự cô đơn cùng cực của người dân VN trước các phán quyết của toà án. Tôi chạnh nhớ đến câu nói của thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh trong phiên phúc thẩm của anh: “một lũ bất nhân đã làm ra phiên toà bất công”.
Ôi, tưởng gì chớ tật xấu của đàn ông (nói chung) và đàn ông Việt Nam (nói riêng) thì e đám đàn bà phải càm ràm cho tới… chết – hay ngược lại. Không mắc mớ gì mà tôi lại xía vô mấy chuyện lằng nhằng (và bà rằn) cỡ đó. Nhưng riêng hai chữ “cái làn” trong câu nói (“Lắm đấng ông chồng vui vẻ xách làn đi chợ…”) của Phạm Thị Hoài thì khiến tôi bần thần, cả buổi! Năm 1954, cái làn (cùng nhiều cái khác: cái bàn là, cái bát, cái cốc, cái ô, cái môi, cái thìa…) đã theo chân mẹ tôi di cư từ Bắc vào Nam. Cuộc chung sống giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm… tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.
Hoa phượng được Nhất Tuấn gọi là hoa học trò vì thuở đó hầu như ngôi trường nào cũng trồng cây phượng trong sân trường. Khi phượng đơm hoa báo hiệu cho mùa Hè cũng là thời điểm chia tay sau niên học. Để lưu niệm, nữ sinh đóng tập Lưu Bút giấy pelure xen kẽ các sắc màu, trông thật nhã, ghi cảm nghĩ cho nhau… Ở lớp Đệ Tứ, không còn học chung nhau vì lên lớp Đệ Tam theo ban A, B, C và lớp Đệ Nhất là thời điểm chia tay vĩnh viễn, tập Lưu Bút dày hơn, chia sẻ, tâm tình… của tuổi học trò. Hầu như nam sinh không có Lưu Bút, chỉ được xía phần, dù có tinh nghịch nhưng phải viết đứng đắn, lịch sự.
Trong chị Thanh chỉ có một tấm lòng, chứ tuyệt nhiên không có “những bức tường lòng” phân cách Bắc/Trung/Nam – như rất nhiều người Việt khác. Tình cảm của chị tinh khiết, trong veo, và tươi mát tựa như dòng nước của một con suối nhỏ – róc rách, len lách – khắp mọi miền của tổ quốc thân yêu. Bởi thế, dù không biết chính xác chị được chôn cất nơi nao tôi vẫn tin rằng ở bất cứ đâu thì đất nước này cũng đều hân hoan ấp ủ hình hài của người thơ đa cảm, tài hoa, và chuân truyên nhất của dân tộc. Vĩnh biệt Nguyễn Thị Hoài Thanh. Em mong chị mãi mãi được an nghỉ trong an lành và thanh thản!
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.