Hôm nay,  

Linh Sơn Cốt Nhục, Tiếng Lòng Cùng Ai

6/12/201921:34:00(View: 5463)

LINH SƠN CỐT NHỤC, TIẾNG LÒNG CÙNG AI
 

Tưởng niệm HT Thích Quảng Thanh, Viện chủ chùa Bảo Quang, Santa Ana, Hoa kỳ.
 
blank

Thầy ơi, một đời tài hoa…

Chẳng phải trước sự ra đi của người mà ta quý mến, những người tin vào lời dạy của đấng Thế tôn mới thấy cuộc sống là vô thường, ngắn ngủi. Mấy hôm trước, trên đường đi miền Nam Cali để hướng dẫn một khoá Tu học, tôi được tin Ôn vào bệnh viện, rồi bác sĩ khuyên nên đưa Ôn về tịnh dưỡng. Tôi xót lòng khi nghĩ đến tình trạng sức khoẻ của Ôn đã suy. Không cầm lòng quý mến và kính trọng, tôi thở dài, ngồi yên ở phi trường Oakland, nhiếp tâm cầu nguyện Ôn được nhẹ nhàng ra đi.

Rồi sáng nay ở phi trường San Diego, khi khoá tu học hoàn tất, trên đường trở về Hayward, tôi được biết Giáo hội Phật giáo Việt nam trên Thế giới báo tin Ôn đã thị tịch tại phương trượng Chùa Bảo Quang, một trong những ngôi chùa có nét đẹp nghệ thuật, nhờ bàn tay tài hoa của Ôn, người nghệ sĩ nơi cửa thiền, cộng với tâm hồn của người thi sĩ Thanh Trí Cao.

Tại phi trường, tôi bàng hoàng, như người khách lạ lạc vào giữa đám hành khách đi lại nhộn nhịp ngược xuôi, lòng se sắt khác thường, tưởng chừng như vừa mất đi một phần thân thể. Cái mất mát khó bù đắp và sự đau đớn khó lường trước. Nghĩ đến mạng mạch Phật pháp nơi xứ người cần đến những bàn tay, trí lực, phẩm cách của người thích tử Như Lai, lòng thật tiếc thương Ôn, một tăng sĩ tài hoa, đầy nhiệt huyết, tinh thần phụng sự Chánh pháp thật hiếm có.

Ngưỡng mộ Ôn là thế, nhưng cái duyên được tao ngộ tại nơi trú xứ của mỗi người lại không nhiều. Nếu tôi nhớ không sai thì trước sau, Ôn Quảng Thanh chỉ đến chùa Phổ Từ một lần duy nhất trong dịp Đại hội Huynh trưởng của tổ chức GĐPT, và tôi cũng chỉ chính thức đến chùa Bảo Quang một lần trong dịp hướng dẫn một số Tăng ni, Phật tử đi lễ Phật và viếng thăm các Chùa trong vùng Orange County.

Bù lại, chúng tôi gặp nhau không ít tại nhiều nơi, trong các kỳ sinh hoạt của Giáo hội, và nhất là với tổ chức Gia Đình Phật Tử. Vị tăng sĩ tài hoa ấy cũng là người không thiếu mặt trong mọi hoạt động tôn giáo và đoàn ngũ trẻ của giáo hội.

Trong lần hiếm hoi viếng chùa, tôi không may mắn được gặp Ôn, người kiến tạo và khai sơn, chỉ thấy tăng xá đang được xây cất. Tôi đi quanh chiêm ngưỡng cảnh chùa và nhìn tận mắt một trong những tác phẩm của đôi tay khéo léo và trái tim tài hoa. Những non bộ do Ôn tạo dựng ngoài sân chùa đều có nét mỹ thuật rất đặc thù và hương vị giải thoát của thiền gia. Lần ấy, tôi tiếc không có duyên may được thấy thêm những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc xưa nay, được trưng bày tại một nơi riêng biệt, biểu lộ phần nào khiếu thẩm mỹ và óc thưởng ngoạn sâu sắc, tinh tế của một hành giả của đạo thiền mang tâm hồn người nghệ sĩ.

Thật thế, nơi Ôn là hiện thân của sự dung hợp giữa những nguyên lý của đạo từ bi và cái thiện, cái đẹp, cái phóng khoáng của nghệ thuật. Từ đây, nghệ thuật không mâu thuẫn với quan niệm về hình tướng của nhà Phật mà làm sáng tỏ thêm bản chất giác ngộ trước những điều cao đẹp tốt lành mà đức tin nhắm tới. Một đời nhập thế, Ôn đã thực hành đạo từ bi đồng thời thực thi nghệ thuật. Giúp người trong việc hướng dẫn đem lại tâm an lành cũng như giúp người mở rộng tâm hồn bằng con đường tiến tới thiện mỹ của nghệ thuật, như anh Như Hùng nghĩ: 
 
“Chúng tôi có cơ duyên quen biết với thầy khi còn ở Việt Nam, lúc đó chúng tôi thường gọi thầy là cao tăng. Mà quả như thế, thầy cao thật, cao từ tướng mạo cho đến tư tưởng, cao từ những tác động hưng khởi ở bên trong đến sự hành hoạt ở bên ngoài, cao từ nội giới đến ngoại giới, cao từ trong lý tưởng đến giải thoát, cao từ phụng sự tha nhân đến tinh thần giác ngộ. Hầu như tất cả những bộ môn nghệ thuật đều có sự góp mặt của Thầy, từ văn chương, thi ca, hội hoạ, kiến trúc, âm nhạc, nhiếp ảnh, tạc tượng, cắm hoa, non bộ, bonsai, sưu tầm cổ vật, đâu đó đều có bàn tay khối óc và con tim của thầy tạo nên. Thầy đem đạo vào đời xuyên qua con đường của nghệ thuật, và xử dụng sở trường nầy để khai mở tâm thức, gieo hạt mầm giác ngộ đến với tha nhân. Thầy là nghệ sỹ, nghệ nhân, thiền sư Thanh Trí Cao.

Trước khi là một nghệ sỹ, một nghệ nhân thầy là một tăng sỹ, trước khi những tác phẩm nghệ thuật ra đời thầy là một thiền sư. Dù đứng ở góc độ nào để nhận định, thì con người tài hoa đó, nghệ nhân vượt trội đó, trước hết và trên hết vẫn là một thiền sư.” (Sự có mặt của Thiền trong Dấu Ấn Nghệ Thuật 2, tháng 10, 2012)
 

Cũng bằng con đường nghệ thuật, Ôn, con người tài hoa ấy còn mời gọi, khích lệ mọi người mở rộng lòng đến với tha nhân bằng chính cái nhìn vào thế giới của tăng già. Riêng tôi nghĩ bộ ảnh "Đời sống Thiền môn" do Ôn thực hiện, bên cạnh giá trị về mặt nghệ thuật, còn chứa đựng ý nghĩa một "pháp môn", đưa người gần lại, đến với tư tưởng thiền qua bóng dáng, tâm hồn, tâm thức, cuộc sống của người xuất gia, tin đạo trong ảnh.

Tôi hằng mơ ước một sự thể hiện như thế khi còn là một tăng sinh và khi còn đang theo đuổi việc học tại San Francisco State University ngót 40 năm trước. Kiểu mẫu mỹ thuật Tây phương với Monet, Cézane... đã trở thành quen thuộc với bài tập thực hành trong lớp, nhưng khi quay về với mình, thì mẫu mực mỹ thuật này xa lạ với đời sống, tâm hồn người Việt và nếp sống nơi cửa chùa. Tôi từng ước ao thể hiện được trên tranh, bằng mầu sắc và tâm hồn mình, những hoạt động, sinh hoạt, đời sống của thế giới mà tôi có mặt. Hình ảnh với nụ cười bao dung, buông xả của đức Thế tôn, hình ảnh ghi nhận được tâm trạng và ước mơ của lứa tuổi măng non trong hàng ngũ Gia đình Phật tử, hình ảnh của nếp sống giản dị, khiêm cung về mặt phương tiện nhưng súc tích ý nghĩa tâm linh nơi cửa thiền. Tất cả đều được gói ghém trong ước mơ về nghệ thuật của tôi thuở ấy.

Chỉ có Ôn, người tăng sĩ nghệ sĩ ấy, đã thực hiện được mơ ước đầu đời riêng về mặt nghệ thuật của tôi. Có lẽ, nơi phi trường, khi được tin Ôn không còn, cái cảm giác làm chấn động lòng mình là sự lay đổ, tự trong tiềm thức, hình ảnh người tạo thành hiện thực, mơ ước của tôi.

Con người nghệ sĩ ấy còn là người thực hiện cần mẫn hiếm có tinh thần vị tha của người tăng sĩ. Người nghệ sĩ đã khiến cái thiện, cái lành của một đức tính nơi thế nhân mang thêm nét đẹp của tâm hồn. Vì thế, chúng ta chẳng ngạc nhiên, khi được biết, suốt 25 năm qua, Ôn và chùa Bảo Quang đã đều đặn cung cấp  cơm chay cho những người thiếu may mắn.

Ôn, người tăng sĩ dồi dào lòng nghệ sĩ, còn tỏ ra rộng tình liên đới giữa đồng đạo, nghĩa là bằng hành động, khích lệ tinh thần Linh Sơn cốt nhục trong giới xuất gia. Tương tự tinh thần đoàn kết giữa những người trong một tập thể, người xuất gia cần phát triển hạnh Lục hòa trong tăng chúng.

Riêng tôi, vì chút trách nhiệm với tổ chức Gia Đình Phật Tử nên mới có dịp giãi bày thêm. Nhờ sự khuyến khích và giúp đỡ của Ôn trong vai trò Tổng Vụ Trưởng Thanh Niên thuộc giáo hội lúc  bấy giờ, tang lễ thầy Phổ Hòa (nguyên Huynh trưởng Hồng Liên Phan Cảnh Tuân)  đã quy tụ sự hiện diện góp sức của 4 Ban Hướng dẫn Trung Ương đương thời. Một việc làm ấm lòng người ra đi lẫn người ở lại.

Tưởng nhớ lại, những lúc gặp nhau trong các buổi hội thảo hay huấn luyện Huynh trưởng, Ôn cầm tay tôi, và nói những lời dứt khoát, rõ ràng: “Thầy phải cố gắng, mình phải làm thôi…” Lời nói ấy, cử chỉ ấy lưu lại mãi trong lòng tôi, khiến tôi tâm niệm biết ơn về thái độ vị tha, phóng khoáng của Ôn.

Nói là tình đồng đạo như cốt nhục cũng không ngoa, vì với người xuất gia, nhận các bạn đồng tu làm gia đình lớn thì sự chia lìa xảy ra phải là cái tang chung trong tăng chúng. Gần đây, khi nghe tin TT Tâm Khanh ở North Carolina vừa mất trong một tai nạn, ai cũng ngậm ngùi. Trong buổi lễ Trai Tăng ở San Jose, sư phụ Kim Sơn, đại diện cho 50 vị Tăng Ni có mặt, cũng xướng danh cầu nguyện cho Thượng toạ, dù chưa gặp mặt hay quen biết thân sơ.

Sớm nay, thầy Định Quang báo tin Ôn Bảo Quang ra đi với lời thương xót. Thầy nhắc nhở về trách nhiệm chung cần phải chu toàn, cũng như là những lời an ủi nhau trước cái tang chung.

Ngày nay, nhờ sự phát triển khoa học công nghệ thông tin mà giới xuất gia cũng như hàng Phật tử như gần lại với nhau hơn. Khoảng cách địa lý không còn là trở ngại khó vượt qua mà lòng người không vì xa cách mà tình đạo thiếu đi đằm thắm.

Nhân đây, tôi cũng xin tán thán công đức Thượng toạ Nguyên Tạng, chủ biên trang nhà Quảng Đức, đã dành nhiều thì giờ, chăm sóc, thu thập, đúc kết, chuyển trao các tin tức Phật sự đến mọi giới đồng bào Phật tử, xuất gia cũng như tại gia, khắp nơi trên thế giới, một cách rất hiệu quả và đem lại sự hiểu biết, tin tưởng lẫn nhau từ đó gây dựng được an lạc trong tâm hồn. Nhờ có trang nhà Quảng Đức, mà chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi, mọi hoạt động, tin tức vui buồn liên quan đến thiền môn đều được phổ biến đến tận từng người theo dõi.

Riêng tôi, thường xuyên vào trang nhà Quảng Đức, để cập nhật tin tức chính xác và đầy đủ về Phật sự mọi nơi và biết thêm được quan điểm, ý kiến, suy nghĩ về nhiều vấn đề thuộc nhiều lãnh vực liên quan đến Phật giáo. Đó đây, bài viết của chị Kiều Mỹ Duyên, của anh Như Hùng, của sư cô Huệ Trân giúp ta mở rộng thêm tầm nhìn về một số điều, và gần nhất là giúp ta hiểu rõ những khía cạnh đóng góp, cống hiến của Ôn Quảng Thanh trong sự nghiệp hộ Đạo, giúp Đời và đặc biệt từ vị trí khá đặc biệt của người nghệ sĩ khoác tăng bào.

Công đức ấy thật vô lượng vô biên, một lần nữa, xin cám ơn và cầu chúc Thầy Nguyên Tạng an lạc thân tâm để tiếp tục mang lợi ích lại cho mọi người con Phật.

Cuộc sống quả là tạm bợ, ngắn ngủi nhưng công nghiệp và tinh thần phụng sự còn để lại lâu dài với đời, với người. Nhớ tiếc người ra đi không gì bằng tiếp tục và xiển dương mạnh mẽ tinh thần phục vụ mà vị cao tăng đã một đời nêu gương sáng.

Vào cuối tuần này, dù tại nơi trú xứ Hayward, trì kinh Đại Bảo Tích hay lãnh nhiệm vụ trong một lớp học Phật theo lịch trình, tôi tưởng như thấy mình có mặt, đồng hành, theo bước Hòa Thượng Minh Mẫn cùng với chư Tăng Ni đón rước nhục thân của Ôn Bảo Quang về chùa hành lễ truy niệm, cầu nguyện, tiến giác linh… Rồi đến sáng ngày thứ Hai, 17-6-2019 (tức là 15-5 Kỷ Hợi) tôi sẽ dành thì giờ tĩnh tọa tại chánh điện chùa Phổ Từ, để tịnh niệm, cầu nguyện và tiễn đưa Ôn về miền Tịnh cảnh.

Chúng ta không còn cách biệt nữa khi lòng mình đã đến gần nhau!
 

Kính bạch Thầy,

Thầy đi, con ở lại, cùng với anh Như Hùng, Vĩnh Hảo, Tâm Huy và bao người bạn khác nữa sẽ tiếp tục bước theo dấu chân, con đường mà Ôn đã mở ra trong cùng tâm nguyện “làm đẹp Đạo, đẹp Đời”, làm sáng danh những giá trị của Chân,Thiện, Mỹ mà Ôn một đời theo đuổi việc phát huy. Công nghiệp Thầy để lại cho đời, cho người chính là sự xiển dương những giá trị của tỉnh thức, của cái đẹp trong tâm hồn vĩnh cửu tồn tại với núi sông như điều anh Như Hùng bày tỏ: “Bộ ảnh nghệ thuật về "Đời sống thiền môn" được thầy chụp lại, trong dịp chư tôn đức Tăng Ni tu hội về chùa Bảo Quang để an cư kiết hạ, trau dồi đạo hạnh, trang nghiêm thân tâm. Mỗi bức ảnh là một thông điệp, lời kinh nhắc nhở, sự hồn nhiên vô tư của tuổi thơ, sự sinh động tự tại của tuổi trẻ, sự thảnh thơi an lạc của tuổi già, vẫn ngày đêm vươn cao lan toả sức sống. Sáng và tối, có với không, còn với mất, đến và đi, sanh và tử, mê và ngộ, tạo thành bản hoà tấu vô tận lên cung bậc tử sinh. Màu y vàng giải thoát, cánh cửa không môn rộng mở, sự an lạc toả chiếu lên từng tâm cảnh, tạo thành năng lực nhiệm mầu, chuyển hóa sinh, lão, bệnh, tử, thành giác ngộ an lạc, vượt thắng vô thường tìm đến chân thường. Lời kinh tiếng mõ, pháp âm thi nhau vang vọng, từng bước thiền hành niệm Phật, hòa nhập theo dòng thời gian và không gian về nơi tịch lặng. Đi giữa tử sinh với vô thường réo gọi, mà vẫn thong dong mĩm cười tự tại, sống với khổ đau, biến động nhưng tâm lúc nào cũng tỉnh thức. Một khi tuệ giác hiển bày, nhận ra được chân lý cao cả, thì đi với về, sinh với tử đồng một nghĩa, tất cả chỉ là sự dừng chân thăm viếng, khi duyên hết tâm nhẹ, an nhiên ra đi về nơi vô sinh, bất diệt, không có khởi đầu và chung cuộc.

Con xin cúi đầu kính lạy tiễn chân Ôn.

Mai này mình gặp lại nhau

Bên bờ Tịnh cảnh, nơi miền Vô sanh

Gặp trong hạnh nguyện tốt lành

Cứu người bớt khổ, giúp đời thêm vui.

 

       Hayward ngày 11 tháng 6 năm 2019

          Thích Từ-Lực



Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.