Hôm nay,  

Chuyện Ma

29/01/201911:02:00(Xem: 9699)

Vào Đông. Tiết trời lành lạnh. Tôi kéo cao cổ áo “trận” để tránh giá buốt của đêm trừ tịch kéo về. Ngoài khung cửa sổ, gió hiu hiu, đong đưa những cành lá rũ chết.
Bầu trời không trăng sao! Tôi. Một mình. Ngồi nhớ nhà!
Giờ này sắp giao thừa rồi đó! Tôi định lấy giấy, viết, khai bút đầu xuân. Tôi cũng không biết mình sẽ viết những gì trong đêm giao thừa. Ý nghĩ chờn vờn. Muốn viết nhiều mà chữ nghĩa dường như trốn mất. Giờ này có lẽ Mẹ tôi sắp sửa “lì xì” cho các cháu Nội, Ngoại của Mẹ, đang tề tựu dưới mái ấm gia đình. Chúng đang xếp hàng thành nửa vòng tròn hình bán nguyệt, trước bàn thờ tổ tiên, để chờ Mẹ tôi cho mỗi đứa một phong bì đỏ, có tiền lì xì còn thơm mùi giấy. Nghĩ thế mà lòng tôi se lại!
Tôi nhìn quanh phòng. Ngoài chiếc giường lẻ loi kê sát vách, cạnh cái bàn nhỏ, tựa cửa sổ; không còn một thứ gì khác hơn.
Đây là một phòng ngủ “Vãng Lai” của Trung Tâm Yểm Trợ Tiếp Vận Tiểu Khu Bình Thuận; đơn vị mới mà tôi vừa đảm nhậm. Vị sĩ quan tiền nhiệm của đơn vị này, mặc dù đã nhận bàn giao công tác của tôi tại Khánh Hòa, hơn một tuần trước; nhưng mãi cho đến nay, vẫn chưa bàn giao lại “cư xá sĩ quan” mà tôi được sử dụng, trong suốt thời gian phục vụ tại đơn vị này.
Tôi đảm nhậm đơn vị mới và nhận bàn giao chỉ trước giao thừa có mấy đêm. Vì vị Sĩ Quan tiền nhiệm chưa bàn giao cư xá, nên tôi được Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Yểm Trợ Tiếp Vận, cho phép tôi được xử dụng một phòng của Vãng Lai Sĩ Quan, cho đến khi tôi được nhận cư xá sĩ quan cấp riêng cho tôi.
Tôi còn nhớ, khi trình bày với Thiếu Tá Phạm Minh, Chỉ Huy Trưởng để xin xử dụng tạm thời phòng vãng lai,Thiếu Tá Minh, có vẻ lưỡng lự, không bằng lòng.
Ông nhíu mày dường như đang suy nghĩ để lấy quyết định.
Một chập lâu sau, ông nói với tôi:
-Thật ra cũng bất tiện cho anh. Tình hình an ninh không được khả quan. Anh là sĩ quan cấp Tá, càng không nên cư ngụ bên ngoài doanh trại. Trong tình trạng này, tôi cũng đành để anh sử dụng vãng lai mà thôi.
Tôi đáp: Dạ cám ơn Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng.
Ông ta có vẻ ngần ngại, hỏi lại tôi:
- Nhưng anh có sợ ma không?
- Làm gì có ma mà mình sợ!
Ông thong thả, nói gằn từng tiếng một:
- Nhưng tôi báo trước với anh nhé! Căn phòng mà anh sẽ sử dụng đã bỏ từ lâu, không ai dám ở. Ai đã vào đó, chỉ được vài giờ đồng hồ là chạy ngay ra thôi.
Thiếu Tá Minh ngừng trong giây lát, rồi chậm rãi nói:
- Tùy ý anh đó! Sau này nếu có thấy ma, cũng xin đừng nghĩ là tôi chơi thâm nhé!
Tôi quả quyết:
- Xin Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng đừng ngại. Tôi chẳng biết sợ ma! Hơn thế nữa mình không chọc ma thì ma cũng chẳng chọc mình bao giờ!
Trao đổi xong, tôi bảo hạ sĩ Cảnh tài xế mang hộ tôi va ly và những thứ linh tinh khác vào phòng số 4 của Vãng Lai. Tôi thấy hạ sĩ Cảnh dường như hốt hoảng. Nhìn nét mặt, tôi thấy anh hơi ái ngại. Anh trình bày:
- Thiếu Tá bảo anh Liêm khiêng các thứ này với em.
Tôi chưa hiểu được ý của anh, nên không do dự, tôi nói ngay:
- Chỉ có 1 cái va ly, anh khiêng một cái, còn những cái kia để lại cho tôi coi, sau đó, anh ra lấy các thứ lặt vặt đem vào phòng rồi khóa cửa lại. trao chìa khóa cho tôi tại Khối Tài Chánh.
Mặt hạ sĩ Cảnh tái xanh:
- Dạ ... dạ thưa... dạ thưa Thiếu Tá ... thương em... cái mà em không dám vào phòng đó một mình em đâu... cái mà Thiếu Tá nói với anh Liêm đi cùng với em. Đi một mình em sợ lắm!
Tôi gắt: -Lính mà sợ ma. Chứ anh không biết ma nó sợ súng lắm hay sao?
- Dạ! dạ thưa Thiếu Tá, nếu Thiếu Tá không tin em, phạt em ... đánh em, bắn em ... em cũng chịu, chứ có ông sĩ quan nào của Khối Tài Chánh mà... dám ở phòng đó một đêm thôi, em đưa đầu cho Thiếu Tá bắn!
Tôi nhìn nét mặt xanh lét, nghe giọng nói ngập ngừng, dáng dấp run sợ, tôi biết anh ta đang hoảng hốt thật. Nhưng với tư cách là sĩ quan chỉ huy, tôi bình tĩnh hỏi lại anh:
- Tôi hỏi thật, anh đã thấy con ma trong phòng 4 vãng lai lần nào chưa, mà anh sợ khiếp như vậy?
- Dạ Thưa Ông Thầy, em chưa thấy, chỉ nghe kể, em đã sợ chết cha em rồi. Chứ em mà thấy, chắc tim em ngừng đập ngay, đâu còn sống đến bây giờ ..
Tôi lấy một điếu Pail Mail đầu lọc mời anh. Tôi rút thêm một điếu nữa, chăm lửa hút:
Tôi vỗ về anh: - Hút đi! Bình tĩnh. Nào nói cho tôi nghe! Con ma như thế nào, nó ra sao?
Hạ sĩ Cảnh hít một hơi thật dài, nhả khói thuốc làm nhiều lần. Anh nhìn quanh như sợ hồn ma đứng đâu đó. Tôi thấy anh đang tựa lưng vào thành xe Jeep, mắt lơ láo nhìn quanh. Anh không trả lời trực tiếp câu tôi hỏi mà nói quanh co:
- Thiếu tá mà ở phòng vãng lai đó, sáng sáng ... anh Liêm cũng không dám đem cà phê vào phòng đó cho Thiếu Tá đâu! Không tin em... Ông Thầy kêu anh Liêm hỏi thử thì biết... ngay mà!
Tôi bảo Hạ sĩ Cảnh:
- Được! Gọi Hạ Sĩ Liêm cho tôi.
Hạ sĩ Cảnh mừng rỡ như thoát được gánh nợ, vôi vàng chạy về Khối Tài Chánh.

Không bao lâu, tôi thấy Hạ Sĩ Liêm hốt ha hốt hoảng cùng chạy ra với Hạ Sĩ Cảnh:
- Dạ! Thiếu Tá gọi em?
Tôi hỏi thăm dò ngay:
- Tôi ở tạm tại phòng vãng lai số 4. Sáng sáng anh chịu khó mang cà phê vào đó cho tôi được không?
- Dạ! Thưa Ông Thầy! Ông Thầy bảo gì thì em cũng chết với ông thầy. Bảo em lên rừng bắn cọp, xuống biển bắt cá, em cũng đi ngay, mang về cho ông thầy ... nhưng ...
Tôi nói lớn tiếng: - Nhưng sao?
- Ông thầy bắn em thì bắn, đưa em ra đơn vị tác chiến thì em cũng đành lòng ... nhưng ... nhưng biểu em bưng cà phê đến đó cho ông thầy thì em chịu chết thôi!
Tôi gật gù: -Thôi được! Hai anh khiêng hộ giùm tôi ba thứ linh tinh, lỉnh kỉnh này, rồi về Khối làm việc. Chưa thấy ma thì đã sợ! Còn đòi lên rừng bắt cọp! Làm gì có ma quỷ trên trần gian này! Suốt đời tôi chưa bao giờ gặp ma! Mà có gặp cũng chẳng sao!
Nói xong tôi xách cặp đi thẳng vào phòng vãng lai. Hạ sĩ Cảnh và Hạ Sĩ Liêm rón rén bước theo.
Đêm hôm đó, tôi thao thức hoài không thể nào ngủ được.
Bên ngoài cửa sổ, bóng đen vẫn lạnh lẽo, bao trùm cảnh vật trong màn sương dày đặc của đêm trừ tịch. Không một tiếng pháo giao thừa! Đâu đây chỉ có tiếng súng bắn vu vơ của một tiền đồn nào đó, mà thanh âm rời rạc ... lạc lõng, chơ vơ!
Bỗng chốc mây đen kéo đến. Gió giật từng cơn. Mưa tuôn xối xả, như nước từ trên trời trút xuống. Tôi nằm xoay mặt vào tường. Ngấu nghiến từng trang cuốn tiểu thuyết, đến đoạn hấp dẫn, Chú Đạt và cháu Diễm đang chuyện trò, gợi tình nhau ... Bất chợt tôi nghe một tiếng soạt, dường như có ai đang mở chốt cửa vào phòng tôi. Bình tĩnh, xoay người lại, nhưng tôi vẫn giữ nguyên ở vị thế nằm.
Tôi đưa tay mò khẩu colt 45, vẫn còn y nguyên dưới gối.
Căn phòng lặng thinh như tờ. Tôi nhìn về hướng cửa ra vào. Cửa vẫn còn khép kín. Tôi nhìn đồng hồ, 3 giờ 48 phút khuya của đêm trừ tịch. Không thấy động tịnh gì, tôi xoay người vào vách tường đọc tiếp cuốn tiểu thuyết...
Khoảng vài phút sau, tôi lại nghe một tiếng soạt, như tiếng ổ khóa đang có người mở cửa. Phản ứng tự nhiên, tôi xoay người, bật dậy. Trong khoảnh khắc bối rối, tôi nhìn về phía cửa. Phút chốc, cánh cửa từ từ hé mở, như có ai đó muốn vào nhưng vẫn còn e dè chưa dám bước vào. Khoảng vài giây sau, một thiếu nữ đứng chần chờ trước cửa, nàng chăm chú nhìn về hướng giường tôi đang nằm.
Qua cái mùng thưa. đã bỏ xuống để ngăn muỗi, tôi thấy một thiếu nữ trẻ, đầu đội chiếc nón lá, trên tay xách một cái bóp trắng, làm nổi bật chiếc áo dài nhung màu tím, màu áo của thời trang, mà vào dạo ấy nhiều phụ nữ thích mặc.
Thiếu nữ vừa xuất hiện, rón rén bước đến nơi tôi đang nằm. Nàng nhìn rất chăm chú vào mùng. Ánh mắt ngạc nhiên, khi biết có người đang nằm trong mùng.
Sau một hồi ngập ngừng, nàng lấy chiếc nón đặt úp ngay trên đầu mùng. Tôi choáng mắt trước sắc đẹp của nàng. Sau đó, nàng vén mùng, ngồi xuống cạnh giường. Hai chân vẫn còn để ở ngoài mùng,
Vẫn chưa định thần, tôi ngỡ mình đang trong cơn choáng váng, nên vẫn nằm im không có một cử động nhỏ nào. Tôi tưởng tôi đã đi lạc vào đám mây mù của ảo giác hoặc đang rơi vào hoang tưởng...
Thiếu nữ đưa tay choàng qua mình tôi. Mặt nàng nhìn thẳng vào mắt tôi dường như muốn nói điều gì nhưng lại thôi. Phản ứng tự nhiên, tôi đưa tay gạt ngang lưng nàng. Cảm giác rờn rợn, tôi cảm nhận tay tôi đã chạm vào một miếng vải nhung êm ả. Phút chốc hình hài thiếu nữ tan biến, trong ánh sáng mờ ảo.
Bình tĩnh, tôi nhìn lên đầu mùng, chiếc nón mà thiếu nữ đã đặt trước khi ngồi trên giường tôi đang nằm đã biến mất. Tôi xem lại mé mùng, chỗ của thiếu nữ đã ngồi khi nãy, có một khoảng mùng bị kéo ra khỏi cái nệm, mà lúc vào trong giường, tôi đã nhét mùng dưới nệm để bầy muỗi khỏi bay vào.


Tôi vẫn biết mình chưa ngủ. Tôi khép cuốn sách lại, trước khi xếp một góc trang mà tôi vừa đọc để đánh dấu mình đã đọc đến trang nào...

Cảnh tượng chỉ xảy ra trong thoáng chốc chưa đủ làm cho tôi sợ hãi. Tôi vẫn chưa tin thiếu nữ đó là ma.
Hoang mang, tôi ngồi dậy, bước ra khỏi mùng. Đến cái bàn nhỏ, có cái điện thoại dã chiến EE8, tôi quay vài vòng để gọi Phòng Trực. Im lặng không có tiếng bên kia đầu giây trả lời. Quay thêm một vòng nữa, vẫn lặng lẽ, không có một thanh âm nhỏ nhoi nào báo động cho biết điện thoại còn hoạt động. Tôi mở 2 cục pin A.3o để kiểm soát lại.
Pin vẫn đặt đúng vị trí. Hơi bối rối, tôi mang vội đôi giày trận, tay cầm khẩu Colt 45. Tôi đi vội ra phòng trực. Dọc hành lang của nhà vãng lai, ánh sáng leo lét của các bóng đèn 25 watt, không cho đủ ánh sáng. Tôi cảm thấy có cái gì lành lạnh ở sau gáy.
Đến Phòng Sĩ Quan trực, anh em có phận sự trực vẫn còn tề chỉnh trong trang phục tác chiến. Thiếu Úy Sĩ Quan trực thấy tôi, bèn đứng dậy, nghiêm chỉnh chào.
Vị Sĩ Quan Trực đứng trước mặt tôi, với giọng nói và nét mặt linh hoạt. Anh ta có dáng điệu của một thanh niên còn trẻ, khoẻ mạnh. Gương mặt phản chiếu những nét linh động, hoạt bát...
Tôi hỏi: Hồi nãy tôi có gọi ra Phòng Trực, Thiếu Úy có nghe điện thoại reo không?
- Dạ! Thưa không!
Anh ta vẫn còn đứng nghiêm sau bàn trực và lễ phép hỏi tôi:
- Thiếu Tá cần gì?
- Không! Tôi không cần gì! Tôi chỉ muốn thử lại điện thoại thôi!
Hồi nãy tôi có gọi thử ra Phòng Trực nhưng không ai trả lời. Tôi đã kiểm soát lại Pin, nhưng điện thoại vẫn không hoạt động được.
Thiếu Úy Sĩ Quan trực, thong thả nói:
- Tôi nghĩ là Pin đã hết hạn xử dụng.
Tôi quả quyết: -Không! Trung sĩ Giang, Hạ Sĩ Quan tiếp liệu, sáng nay có trao cho tôi 2 cục Pin A.3o còn nguyên xi mà.
- Tôi sẽ cùng đi với Thiếu Tá, để kiểm soát lại đường giây điện thoại nối vào phòng số 4.
Vừa nói xong, Thiếu Úy Sĩ Quan Trực rời bàn trực, định đi theo tôi.
Nhìn quanh, tôi không biết ai là Hạ Sĩ Quan trực. Tôi hỏi:
- Hạ Sĩ Quan trực đâu?
Trong một góc phòng, năm sáu quân nhân đang bao quanh bàn cờ tướng, Một Thượng Sĩ chạy đến bàn Sĩ Quan trực, nói:
- Dạ. Tôi trực đêm nay.
Tôi dặn:
- Tôi về phòng vãng lai, thỉnh thoảng anh gọi vào phòng số 4, để tôi thử điện thoại nhé!
- Dạ!
Tôi cùng đi với Thiếu Úy Sĩ Quan Trực trở lại phòng vãng lai.
Một điều làm tôi ngạc nhiên vô cùng. Mùng bị tháo gỡ ra khỏi giường gỗ, và được xếp gọn gàng, đặt ngay trên đầu giường. Mọi vật dụng dường như có ai đó làm xê dịch đi đôi chút.
Trong lúc đó, viên Sĩ Quan Trực không lấy gì làm ngạc nhiên. Anh ta kiểm soát lại đường giây điện thoại dã chiến mắc vào phòng. Một chặp lâu sau, anh nói với tôi:
- Thưa Thiếu Tá, có một đầu giây điện thoại bị hở, tôi đã gắn lại rồi. Tôi sẽ gọi ra Phòng Trực, để xem còn trục trặc nữa không. Vừa nói anh ta vừa quay mấy vòng trên cái điện thoại EE8.
- A lô! Phòng Trực có nghe tôi không?
Bên kia đầu giây có tiếng trả lời. Tôi nghe Sĩ Quan Trực nói:
- Không có gì, tôi đang thử đường giây điện thoại. Cám ơn!.
Anh ấy đặt điện thoại xuống và nói với tôi:
- Có lẽ hôm nay gió mạnh, nên cành cây ngoài cửa sổ lay động, làm hở mạch điện thoại.
Nói xong, anh ta chào tôi về lại Phòng Trực. Còn lại một mình, tôi loay hoay mắc mùng và đi ngủ lại. Đến một nơi xa lạ, nên khó ngủ. Tôi tiếp tục đọc sách, chờ đợi và nghe ngóng chính hơi thở và con tim của mình đang đập thình thịch.
Bỗng nhiên, từ trên trần nhà, ngay chỗ cái bóng đèn tròn, một người con gái mặt mày máu me, trên đầu có những lọn tóc rối, trắng phau, thả xuống gần đôi chân. Đầu đang bị treo vào một sợi dây thòng lọng.
Hai tay và hai chân đong đưa như đang bị nghẹt thở. Mắt trợn tròng, liêng liếc. Một tay vẫy gọi tôi như cầu cứu.
Tôi toát mồ hôi hột, vội chụp súng và chạy ngay ra Phòng Trực. Tôi kể chuyện cho Thiếu Úy Sĩ Quan Trực nghe. Anh ta cũng ngạc nhiên vô cùng.
Tôi hỏi:
- Thiếu Úy ở đơn vị này lâu rồi, Thiếu Uy có nghe ai kể chuyện phòng đó có ma không?
- Dạ thưa Thiếu Tá, tôi cũng có nghe nhiều người nói là phòng số 4 có ma, nhưng chưa nghe ai nói có người tự tử treo cổ lửng lơ trên trần nhà.
Tôi nhìn đồng hồ treo trên tường của phòng trực thì đã 4 giờ sáng rồi.
Tôi hỏi vị sĩ quan trực:
- Mấy giờ Câu lạc bộ mở cửa?
- Dạ, 4 giờ rưỡi.
Tôi hơi ngạc nhiên:
- Sao mở cửa sớm vậy?
Anh ta thong thả trả lời:
- Cả tháng nay, Tiểu Khu ra lệnh cấm trại 100 phần 100, nên anh em đều ngủ lại trong trại. Câu lạc bộ mở cửa sớm để anh em uống cà phê, dùng điểm tâm vì 6 giờ đã điểm danh rồi.
- Mấy giờ anh bàn giao phiên trực?
- Dạ, tôi chỉ chờ Khối Điều Hành Tổng Quát đến để ký Sổ Bàn Giao.
Anh ta giải thích thêm:
- Ở đây, Ban Trực chỉ chịu trách nhiệm từ 5 giờ chiều đến 5 giờ sáng. Còn trong giờ làm việc thì Khối Điều Hành Tổng Quát chịu trách nhiệm.
Tôi nói:
- Tôi mời Thiếu Úy xuống Câu Lạc Bộ uống cà phê sáng với tôi.
- Dạ được. Tôi sẽ cùng đi với Thiếu Tá.
Vừa nói, anh vừa quay điện thoại:
- A Lô! Khối Điều Hành Tổng Quát đó hả! Cho người nhận bàn giao đi chứ! Trễ của tôi 10 phút rồi đó!
Anh ta đặt ống nghe xuống, tươi cười nói:
- Khối Điều Hành Tổng Quát đang cho người xuống ký Sổ Bàn Giao!
Ngay lúc đó, tôi nhớ mình chưa khóa cửa phòng Vãng Lai. Tôi nói:
- Thiếu Úy cùng tôi về phòng Vãng Lai, để tôi khóa cửa rồi mình xuống Câu Lạc Bộ.

Chúng tôi cùng đi về phòng Vãng Lai. Vừa bước vào, chúng tôi thấy một thiếu nữ mặc áo nhung đen, đang nằm ngửa ra trên sàn nhà với chiếc gối hoen máu.
Tôi đưa mắt liếc nhìn. Bỗng dưng tôi nghẹt thở. Tôi kinh hoàng, nhìn không chớp mắt. Vết thương rỉ ra trên cổ nàng và vệt máu vẫn còn nhỏ giọt, ươn ướt tuôn ra từ trên cổ nàng. Thiếu nữ cố hít một hơi yếu đuối, nàng từ từ chống khủyu tay ngóc đầu dậy. Nút áo bị tuột ra, hở ngực. Như có ai đã xé toét ra từ trước. Nàng đưa đôi mắt trắng dã, nhìn chúng tôi như cầu cứu.
Chúng tôi còn đang ngơ ngác thì hình hài của thiếu nữ đó biến mất.
Lần này tôi thật sự khiếp sợ. Giường ngủ bị lật úp xuống, bốn chân lộn ngược lên trần nhà.
Tôi vội đẩy viên Sĩ Quan Trục ra khỏi gian phòng. Anh ta đang đứng lặng người ở trước cửa, há hốc miệng nhìn tôi, mặt mũi xanh như tàu lá chuối. Tôi đóng cửa và vội vã kêu viên Sĩ Quan Trực ra khỏi hành lang. Anh ta hổn hển nói: - Ma!
Chúng tôi lao mình ra khỏi hành lang và nhảy xuống cầu thang từng hai, ba bậc một. Xuống Câu Lạc Bộ, chúng tôi kêu cà phê và cháo gà để điểm tâm.
Vừa liếm từng giọt cà phê nóng hổi, tôi vừa nhìn quanh. Câu Lạc Bộ đông người, mà tôi vẫn còn kinh hoàng, khủng khiếp nhìn quanh ... một vệt máu còn đọng lại trên cổ người thiếu nữ đang nằm vất vưởng trên sàn nhà...
Sau đó, tôi được biết, Câu Lạc Bộ do vợ một thượng sĩ thầu. Tôi nghe nói bà này đã bán câu lạc bộ này nhiều năm, nên tôi hỏi thăm về chuyện ma tại vãng lai, được bà cho biết như sau:
- “Chồng tôi phục vụ tại doanh trại này đã từ lâu. Anh ấy trước đây là lính G.I (khố xanh), sau khi Pháp rút quân về nước, doanh trại này được bàn giao cho tiểu đoàn 82 Việt Nam. Tiểu đoàn Bảo An Bình Thuận được thành lập do Đại Úy Danh làm Tỉnh Đoàn Trưởng, cũng đã đồn trú tại đây. Tỉnh Đoàn Bảo An bị giải tán và xác nhập vào Tiểu Khu cho nên nơi đây là Trung Tâm Yểm Trợ Tiếp Vận Bình Thuận. Nhưng trước năm 1945, doanh trại này là Phòng Nhì của Quân Đội Viễn Chinh Pháp.
Hồi đó tôi còn bán cái quán nhỏ trước trại lính này. Nghe nói tụi Pháp có bắt về một thiếu nữ trẻ đẹp, bị tình nghi là tiếp tế cho Việt Cộng. Ban đêm tụi Pháp điều tra, đánh đập và hãm hiếp thiếu nữ này nhiều lần. Uất ức, cô ta thắt cổ tự tử và sau này con gái của Đại Úy Danh, Tỉnh Đoàn Trưởng Tỉnh Đoàn Bảo An cũng đã tự tử vì tình duyên trắc trở sao đó, cũng tại phòng số 4 của Nhà Vãng Lai này.
Từ đó về sau, không một Sĩ Quan nào dám trú ngụ tại phòng số 5 của Vãng Lai đó.”

Bà nói thêm:
- “Thiếu Tá Minh cho dọn dẹp phòng đó rất sạch sẽ, để khi nào có Phái Đoàn Thanh Tra nào mà hách xì xằng, vẽ vời thứ này thứ nọ, thì ông mời vào phòng đó để tạm trú. Ai vào ở cũng gặp ma và sáng hôm sau cuốn gói về Sài Gòn ngay mà không còn muốn thanh tra, thanh triết gì nữa..
Tôi nghe kể câu chuyện như thế bèn thở dài: -Ừ! Ra là thế.
Nhiều năm về sau, khi chúng tôi gặp lại nhau và hồi tưởng lại chuyện cũ, thì chuyện hai con ma trong Phòng số 4 Vãng Lai, của Trung Tâm Yểm Trợ Tiếp Vận Tiểu Khu Bình Thuận, lúc nào cũng được kể lại.
Duy Xuyên, Tacoma

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.