Hôm nay,  

Về một người Mỹ đáng nhớ

27/08/201800:22:00(Xem: 6340)

Về một người Mỹ đáng nhớ

 

T.Vấn

 

 

blank

 

John McCain, anh hùng cả trong thời chiến lẫn thời bình của nước Mỹ, qua đời hôm thứ bảy 25 tháng 8 năm 2018 vì ung thư não tại thành phố nhỏ bé Cornville, tiểu bang Arizona, Hoa Kỳ.

 

Cái tên John McCain quen thuộc với nước Mỹ, quê hương của ông, là một điều hiển nhiên. Vốn là một phi công của binh chủng Hải quân Hoa Kỳ, ông nối nghiệp cha và ông nội, hai người này đều là tướng 4 sao Hải quân. Sau chiến tranh, McCain giải ngũ, tham gia họat động chính trị cho đến ngày phải chịu thua bệnh tật. Ông đã lần lượt là dân biểu Hạ viện, rồi thượng nghị sĩ liên tiếp 6 nhiệm kỳ, từng 2 lần đại diện đảng Cộng Hòa ra tranh cử tổng thống Hoa Kỳ.

 

Cái tên John McCain cũng không xa lạ gì với người Việt Nam, miền Nam lẫn miền Bắc, cả trong nước lẫn hải ngọai. Là phi công, khi nước Mỹ tham gia trực tiếp vào chiến tranh Việt Nam năm 1965, ông tình nguyện đảm nhận các nhiệm vụ không kích. Tháng 10 năm 1967, trong một phi vụ gần Hà Nội, phi cơ của McCain bị bắn rơi xuống hồ Trúc Bạch. Ông bị bắt và sau đó, đưa về giam giữ ở trại giam Hỏa Lò, nơi bộ máy tuyên truyền của nhà cầm quyền miền Bắc  gọi mỉa mai là khách sạn Hin-Tơn (theo tên hệ thống khách sạn Hilton lớn nhất nhì thế giới của Mỹ). Dạo ấy, hình ảnh McCain bị lực lượng dân quân bắt giữ trên hồ Trúc Bạch được phổ biến khắp các hang cùng ngõ hẻm miền Bắc (cũng như thế giới).

blank McCain bị dân quân Hà Nội bắt giữ trên hồ Trúc Bạch Ảnh(Internet)

 

 

Tháng 4 năm 1968, cha của ông, viên tướng tư lệnh Hải quân bốn sao, được tổng thống Hoa Kỳ LB Johnson bổ nhiệm là tổng tư lệnh lực lượng Thái Bình Dương, bao gồm cả bộ chỉ huy quân đội Hoa Kỳ tham chiến ở Việt Nam. Với mục đích tuyên truyền chứ không phải vì nhân đạo, nhà cầm quyền miền Bắc lúc ấy có đề nghị phóng thích McCain, nhưng ông yêu cầu những tù binh Mỹ bị bắt trước ông phải được thả ra trước đã, theo đúng tinh thần “First In, First Out” của quân đội Hoa Kỳ. Tất nhiên, nhà cầm quyền miền Bắc từ chối lời yêu cầu của McCain, và ngay sau đó đã cho lệnh tống giam ông vào ngục tối kiên giam trong hai năm rưỡi để “trừng phạt”. Tháng 4 năm 1973, hai tháng sau khi hiệp định đình chiến Paris ký kết, McCain được thả sau hơn 5 năm bị bắt làm tù binh, trong đó có 3 năm rưỡi trong các phòng kiên giam. Chính vì lý do “bị bắt” mà ông đã không được vị đương kim tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, một người có thành tích tìm mọi cách để tránh việc bị động viên trong thời chiến tranh (nói nôm na là trốn lính), công nhận là “anh hùng thời chiến tranh”. Trong chiến tranh, ngã xuống giữa chiến trường hay chẳng may lọt vào tay đối phương là những điều không một chiến binh nào mong muốn, dù cũng có rất nhiều người coi chuyện đó nhẹ như lông hồng, là cái giá của hy sinh, nhưng đâu có nghĩa cứ phải chết giữa chiến trường mới được coi là anh hùng. Thực ra, thái độ thẳng tay từ chối “sự phóng thích” của McCain cũng đã đủ chứng tỏ nhân cách, lòng can đảm và nghị lực khác thường của ông ngay từ những năm tháng tuổi trẻ kéo dài mãi sau này trong suốt hơn 60 năm ông cống hiến đời mình cho tổ quốc của mình. [Những ai đã từng ở tù cộng sản đều có thể cảm và hiểu thấu trọn vẹn sự can đảm rất đáng ngưỡng mộ của chàng thanh niên 32 tuổi McCain, cũng như nghị lực phi thường của chàng thanh niên Trần Hùynh Duy Thức từ nhiều năm nay bị ngược đãi trong nhà tù cộng sản, nhưng vẫn quyết không chịu nhận tội mình không làm để được thả tự do. Thậm chí, viên cựu doanh nhân thành đạt này còn không chấp nhận sống ngòai đất nước dù đó là điều kiện để ra khỏi nhà tù]. Cựu tổng thống Obama, từng là đối thủ với McCain trong cuộc chạy đua vào tòa bạch ốc năm 2008, khi nghe tin ông qua đời, đã bày tỏ sự ngưỡng mộ McCain một cách rất sâu sắc “Rất ít người trong chúng ta trải qua những gì mà John (McCain) đã từng bị thử thách hoặc bị buộc phải chứng tỏ lòng can đảm của mình như John đã từng chứng tỏ, nhưng tất cả chúng ta đều (qua sự can đảm của McCain-) được tiếp thêm ý chí để cố gắng hướng tới những điều tốt lành vượt lên trên cả chính mình. Và John, bằng khả năng tốt nhất của mình, đã cho chúng ta thấy ý nghĩa đích thực của đời sống. Vì thành quả ấy, tất cả chúng ta đều mắc với John một món nợ”. [Có lẽ, nếu chẳng may, chàng tuổi trẻ đáng dòng hào kiệt Trần Hùynh Duy Thức của chúng ta, bỏ thây trong nhà tù như ước nguyện của chàng, thì tất cả những người Việt Nam yêu chuộng tự do, dân chủ, công bằng  - đều sẽ như người dân Mỹ nợ McCain – chúng ta cũng sẽ nợ Trần Hùynh Duy Thức món nợ lớn về sự xác tín mạnh mẽ phẩm giá con người, thứ phẩm giá vượt lên trên sự chết, vượt lên trên sức chịu đựng hữu hạn của thân xác con người, vượt lên trên mọi cám dỗ đời thường mà những người trẻ khác cùng thời với chàng đã không thể vùng vẫy thóat ra được để dám sống một đời sống đích thực cho xứng tầm với chàng].

 

 blank

Ảnh chụp đài kỷ niệm bắn rơi máy bay của John McCain trong Chiến tranh Việt Nam (Photo: Bởi Rolf Müller (User:Rolfmueller) – Tác phẩm do chính người tải lên tạo ra, CC BY-SA 3.0, https://commons.wikimedia.org/w/index.php?curid=1651928)

 

6 nhiệm kỳ là thượng nghị sĩ quốc hội Hoa Kỳ, McCain đã có nhiều dịp quay lại Việt Nam, chính thức làm việc với kẻ đã từng cầm tù mình, ngược đãi, sỉ nhục mình và đóng vai trò chiếc gạch nối quan trọng nhất trong nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh giữa hai nước Mỹ và Việt Nam. Nơi máy bay của McCain bị bắn rơi bên bờ hồ Trúc Bạch, nhà cầm quyền Hà Nội đã cho dựng một đài “Tưởng Niệm” để ghi nhớ sự kiện này. Bức phù điêu được gọi là ‘tưởng niệm” có hình dáng một người quỳ gối, hai tay giơ lên với ý nghĩa xin đầu hàng và được chú thích là “phi công John Sidney McCain, thiếu tá không quân thuộc lực lượng Hải quân Hoa Kỳ”. Sự hiện hữu của bức phù điêu nhằm mang ý nghĩa gì, chính McCain trong một lần được hỏi cũng không biết rõ, dù ông đã từng đến đó, đã từng yêu cầu chỉnh sửa một chi tiết sai trong nội dung chú thích khắc trên bức tượng. Nếu mục đích của đài tưởng niệm là chứng tích tượng trưng cho sự đầu hàng của “đế quốc Mỹ” trước “nhân dân Việt Nam” thì thật là một sự mỉa mai và thậm chí vô ý thức vì chính McCain (cùng với TNS John Kerry) là hai nhân vật quan trọng nhất giúp Việt Nam có được sự bang giao (mà Việt Nam rất ao ước và cần đến) với kẻ thù cũ năm xưa. Hôm thứ bẩy 25 tháng 8, 2018, khi nghe tin ông qua đời, nhiều người dân đã đến đây thăm viếng và đặt hoa như một cử chỉ nhớ đến ông, một người Mỹ lịch sử đóng vai trò đáng ghi nhớ ở Việt Nam cả trước lẫn sau khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt. Còn nhớ vì mục đích gì, nhớ như thế nào lại là câu chuyện riêng tùy vào hòan cảnh lịch sử và xã hội của mỗi người.

 

Đối với người Việt ở hải ngọai, nhất là ở Mỹ, thì cái tên McCain gắn liền với một đạo luật về di dân có tên gọi là Tu Chính Án McCain. Qua nỗ lực không mệt mỏi của McCain, Thượng viện Hoa Kỳ đã thông qua điều khỏan cho phép con cái trên 21 tuổi, chưa lập gia đình của các vị cựu tù cải tạo, các gia đình thuộc diện thân nhân bảo lãnh và các thành phần liên quan đến diện con lai Mỹ, được nhập cư nước Mỹ. Rất nhiều người Việt thuộc diện trên vẫn nghĩ mình mang ơn McCain về một cuộc sống tự do bên ngòai đất nước.

 

Người ta còn nhớ đến McCain ở cá tính độc lập, thẳng thắn, không bao giờ e ngại nói lên suy nghĩ thật của mình về bất cứ vấn đề gì. Trong chính trị (nuớc Mỹ), cá tính ấy đồng nghĩa với việc có nhiều kẻ thù. Cũng vì vậy, tuy cùng chung một đảng Cộng Hòa, nhưng McCain và viên tổng thống đương nhiệm Donald Trump thường xuyên có những xung đột về cách giải quyết những vấn đề quan trọng của nước Mỹ. Là một người mang biệt danh “hùm xám cô đơn” (maverick), bất kể đa số các đồng sự trong đảng Cộng Hòa chọn con đường ủng hộ nghị trình (phù hợp với lập trường bảo thủ) của Trump mà cố tình bỏ qua cho ông này nhiều lầm lỗi cá nhân, McCain chọn ngược lại. Những xung đột giữa hai người có hai nhân cách hòan tòan đối nghịch nhau, đã đến lúc không thể cứu vãn. Kết quả, trước khi chết, McCain ngỏ ý không muốn có mặt Trump trong tang lễ của mình. Cá tính của McCain mạnh mẽ đến độ không suy xuyễn chút nào dù thân xác đang ở những giây phút sau cùng. Ông cũng đã tỏ ý muốn được hai vị cựu tổng thống  Obama và Bush (con), hai cựu đối thủ của ông trong hai cuộc tranh cử tổng thống, đọc điếu văn cho mình trong tang lễ. Quả là một nhân cách đáng phục!

 

Thế nên, sự ra đi của McCain, trong bối cảnh chính trị nước Mỹ hiện nay, là sự vắng mặt của một tiếng nói công bằng, chính trực, vượt lên trên những khác biệt về đường lối xây dựng đất nước, về đảng phái, về lập trường (bảo thủ hay tự do), về niềm tin vào xã hội, vào con người. Nói cách khác, theo TNS Jeff Flake, một đồng sự của McCain tại Thượng viện Hoa Kỳ, thì “McCain là lương tri của Thượng viện”. Hiểu rộng hơn, đó là  lương tri một nước Mỹ mà thế giới đã từng biết đến, mà nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới từng biết đến, mà bao kẻ khốn cùng ở bất cứ nơi nào trên thế giới từng biết đến. Nay, với sự ra đi của McCain, còn những ai đủ tầm vóc, đủ bản lãnh, đủ tự tin để tiếp bước ông đi con đường đầy gai góc này? Trong khi đó, nhiều chính trị gia chuyên nghiệp chọn con đường thỏa hiệp, nín thở qua sông, giả ngơ giả điếc trước sự lộng hành của dối trá, bịa đặt, hy vọng một ngày trật tự cũ lại được tái lập, vì truyền thống dân chủ của nước Mỹ sẽ không bao giờ cho phép tình trạng như hiện nay kéo dài. Nhưng mức độ phá sản về đạo đức, về mối tương quan giữa con người không phân biệt màu da, chủng tộc, tôn giáo dường như đã vượt quá lằn ranh an tòan khiến người ta lo sợ về một viễn cảnh không lấy gì làm tốt đẹp lắm cho nước Mỹ. 

 

Để vinh danh cuộc đời một con người lỗi lạc, ngòai việc linh cửu của McCain sẽ được quàn tại thủ đô tiểu bang Arizona theo nghi thức dành cho những người có công trạng đặc biệt cho tiểu bang, một nghi thức tương tự ở cấp liên bang (tòan nước Mỹ) tại thủ đô DC dành cho McCain cũng đã được lưỡng viện quốc hội Mỹ thông qua, một vinh dự mà từ trước tới nay chỉ có 30 người được hưởng. McCain sẽ là người thứ 31. Trước ông, có các tên tuổi như cố TT Gerald Ford, John F. Kennedy, Lyndon B. Johnson, D. Eisenhower, Herbert Hoover . . . Công chúng ngưỡng mộ ông sẽ có cơ hội đến căn phòng hình tròn (rotunda) có mái vòm, tọa lạc ở tòa nhà cao nhất của trụ sở quốc hội Hoa Kỳ (Capitol) để viếng linh cửu McCain, rồi sau đó quan tài sẽ được đưa đ chôn tại nghĩa trang học viện hải quân ở Maryland, theo đúng như ước nguyện của người quá cố.

 

Với người Việt Nam, hiếm khi có nhân vật quốc tế nào qua đời gây nên một xúc động lớn và rộng khắp như trường hợp cựu phi công chiến tranh Việt Nam - cố Thượng Nghị Sĩ John McCain. Điều đó chứng tỏ, một nhân cách lớn luôn có tác động đến người đương thời, đến các thế hệ tương lai, và là nguồn hứng khởi để người ta gắng vượt lên trên những giới hạn của chính bản thân mình.

 

T.Vấn

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.