Hôm nay,  

Nhớ Mãi Không Quên

3/25/201822:59:00(View: 7706)

Nhớ Mãi Không Quên

Tam Giang Hoàng Đình Báu

Ngày xưa lúc ở Sài Gòn, mỗi lần về thăm Huế, tôi về làng Nam Phổ ngay. Tôi như con cá được trả về sông về biển. Tôi chạy tung tăng như cậu bé lên năm lên bảy, đi đi, lại lại hết nơi nầy qua nơi khác từ những con dường mòn đến những bờ ao, bờ ruộng, con đê mà tôi đã từng đi qua vui chơi cùng bè bạn lối xóm trong thời niên thiếu.

Con đường làng gập gềnh sỏi đá đã là bạn đồng hành trong những năm cắp sách lên phố học. Sáng dậy thật sớm, mẹ tôi đã nấu cơm tự bao giờ, cơm được nén chặt vào mo cau, bên cạnh là gói lá chuối đựng muối mè đậu phụng. Tôi bỏ sách vở cùng gói cơm vào chiếc cạc- táp cũ bằng da màu vàng sậm mà ba tôi đã để lại lúc ông đổi ra tỉnh Thanh Hóa làm viêc, tôi còn nhớ những sợi kẽm nhỏ mà mẹ tôi phải khâu thêm phía dưới đít cạc- táp cho cây viết và cục tẩy của tôi khỏi lọt mất.

Hồi đó học sinh từ quê lên tỉnh học chẳng bao nhiêu, cả làng chỉ năm ba người may mắn được thi đậu vào lớp đệ thất. Sáng tờ mờ đã tụ tập trước đình làng  để cùng nhau vừa đi vừa chạy suốt đoạn đường dài sáu bảy cây số sao cho kịp  giờ vào lớp. Tối về mệt lả vì đường xa, vì đói bụng nên chữ nghĩa học được đều trả lại cho thầy. Học sinh ở quê chẳng có ai biết đi dép mà chẳng có dép đâu mà đi nên hai bàn chân cuốc bộ của tôi giống như hai bàn chân sắt tuy nhiên đôi khi cũng bị miểng sành hay đinh nhọn đâm thủng máu me tung tóe đành chịu trận.

Những ngày mưa gió, bão lụt là những ngày khó khăn nhất của đám học sinh ở quê nầy. Chiếc áo tơi bằng lá cây kè hay nói gọn là áo “tơi lá” được xem như người bạn đồng hành để chống lại cái ướt, cái lạnh tê buốt của mùa đông giá rét ở Huế.Tôi mang chiếc áo “tơi lá “ sủng nước, nặng mùi ẩm mốc vào lớp học, dựng nó vào một góc phòng bên cạnh những chiếc áo mưa bằng ni lông của các học sinh ở thành phố. Hồi đó tôi mê có được một cái áo mưa bằng ni lông như thế nhưng mãi đến năm 1954 tôi mới thật sự đi học bằng đôi dép Nhật và khi trời mưa tôi mới được choàng lên vai tấm nhựa ni lông màu xanh dương.

Trong những dịp nghỉ hè, tôi bận rộn với mẹ tôi trong việc đồng áng. Tôi phải đi chăn trâu, cắt cỏ khi người làm cho gia đình tôi bận việc. Mỗi ngày tôi phải cắt hai gánh cỏ non cho hai con trâu một trâu cái, một trâu đực. Con trâu cái tên Giống, con trâu đực trên Mã. Con Giống hiền, con Mã hung dữ, nó là con trâu chém lộn nổi tiếng trong làng do đó tôi không khi nào dám cửi lên lưng con Mã. Ngược lại tôi thường cởi con Giống vì nó đi đứng nhẹ nhàng, không tuông chạy bất thường và biết vâng lời khi tôi điều khiển nó.

Ngày nào được mẹ bảo chăn trâu thế cho người chăn trâu về thăm quê ít ngày thì tôi vô cùng sung sướng vì được một mình dẫn trâu ra đồng ruộng, được đưa trâu ra tận bãi tha ma Mồ Giếng nơi đây có một cái giếng nước trong quanh năm, đến mùa nắng hạn, dân làng thường ra đây lấy nước về dùng.Ngoài giếng nước trong, nơi đây còn có cỏ non nên hằng trăm con trâu lớn bé được dẩn ra đây ăn để lũ chăn trâu rãnh thời giờ vui chơi. Với lũ chăn trâu mặt mày lem luốt, ăn nói bậm trợn, liều lĩnh nhưng đôi khi dễ thương. Bãi tha ma lâu đời nầy rộng cả chục mẫu đất với hằng nghìn mồ mã lớn nhỏ, có cái bằng cái nón, có cái to bằng sân nhà. Chính cái nhà mồ to lớn nầy là nơi lũ chăn trâu thường tụ tập để đánh bi, đánh đáo hay đánh cù. Để trâu ăn cỏ, tôi theo chúng vui đùa, theo chúng đi bắt cá bắt cua  cho đến chiều mới dẫn trâu về. Có lần đang ngồi trên mình con Giống, thình lình nó lội xuống bờ ao uống nước thì đầu tôi cũng chúi xuống ao, hai chân tôi vướng vào cặp sừng của nó,bỗng đầu nó ngẩng lên làm tôi lộn một vòng xuống ao. Đây là lần tôi khiếp nhất và nhớ mãi đến bây giờ.

Làng tôi nằm dọc con đường cái từ làng Vĩ Dạ xuống tận cửa biển Thuận An, Huế. Phía sau làng là cánh đồng lúa với nhiều con rạch dẫn nước vào ruộng và những con đê chạy song song. Trên đê là hàng tre xanh để ngăn những cơn gió mạnh từ biển thổi vào. Con đê và con rạch nầy là nguồn vui của những đứa trẻ trong những ngày rãnh rỗi hay những buổi trưa hè. Tôi cũng ra bờ ao câu cá, nhiều lúc câu cả buổi chỉ được vài con cá nhỏ đành vác cần câu về nhưng lòng lại vui vì được đi thảnh thơi giữa đồng ruộng bao la xanh mát. Khi mùa khô hạn, tôi lại đi tác ao, tác đìa bắt cá,bắt cua.

 Vào những ngày lúa làm đồng, trổ hoa, đồng ruộng trở thành những thảm lúa xanh, vàng óng ánh từ bờ tre cho đến tận chân trời. Lúc nầy mò cua bắt ếch dọc bờ đê lại vô cùng ly kỳ.Có lần tôi thọc tay vào một hang đụng phải đầu một con rắn mà tôi tưởng là đầu con ếch nhưng khi kéo ra thì là con rắn nước, nó chỉ cắn vào đầu ngón tay làm tê buốt chứ không nguy hiểm.

Sau cánh đồng lúa làng tôi có một ngôi chùa nhỏ không có thầy trù trì nhưng có hai cha con ở phía sau để nhang khói. Ngoài việc trông coi chùa, hai người nầy còn mở lớp dạy võ  cổ truyền Việt Nam nên các thanh niên quanh vùng thường đến học võ vào buổi tối sau sân chùa. Người cha cao lớn nhưng gầy,người con bằng tuổi tôi, không đi học chỉ ở nhà giúp cha dạy võ và nuôi một bầy vịt đẻ. Thỉnh thoảng tôi gặp hai cha con đưa vịt ra đồng ruộng ăn, chiều đưa đàn vịt vào chuồng. Sau nầy lúc đi tù cải tạo về, tôi về Huế thăm gia đình thì được biết ông thầy dạy võ đã mất, người con nối nghiệp cha và trở thành một võ sư nổi tiếng nhất Việt Nam thời đó.

Làng tôi Nam Phổ còn có một món ăn độc đáo, đó là bánh canh tôm cua nổi tiếng khắp chốn thần kinh, gọi là Bánh Canh Nam Phổ. Tại khu phố Bolsa ở miền Nam California cũng có nhiều tiệm bánh canh Nam Phổ.

 Lúc còn nhỏ, cứ mỗi chiều, một đoàn người toàn là các cô gái quê đôi mươi mặc áo dài ( áo  phần trên vải trắng, phần dưới vải nâu) nối đuôi nhau gánh hai nồi bánh canh nặng đi lên thành phố Huế để bán. Các cô gái nầy khoẻ mạnh, buôn gánh bán bưng nhưng rất lễ phép theo truyền thống, khuôn phép từ thế hệ nầy sang thế hệ khác. Dù hai vai gánh nặng,các cô vẫn cởi mở, thân thiện và hiếu khách. Các cô bước đi nhanh mà dịp nhàng trong lúc hai nồi bánh canh sáng choang nhẹ nhàng đong đưa mềm mại theo đôi gióng và chiếc đòn gánh trên vai.

Nghề bán bánh canh Nam Phổ là nghề gia truyền của người dân làng Nam Phổ.Mẹ tôi và các chị em tôi thỉnh thoảng cũng bày nấu bánh canh. Nấu bánh canh muốn ngon cũng lắm công phu từ việc pha bột cho đến việc làm tôm cua và nêm nấu…

Các bạn thấy đó.Ca dao có câu “ Con gái Nam Phổ ở lỗ trèo cau”, nhưng thật sự người con gái làng Nam Phổ không ở truồng trèo cau đâu.Làng Nam Phổ là làng trồng cau nhiều nên mỗi buổi sáng thức dậy các nàng muốn chứng tỏ mình giống mẹ đảm đang việc nhà, trong ngoài đều quán xuyến nên vừa ra sau vườn vừa ngồi xuống tè vừa nhin lên mấy cây cau xem buồng cau nào đến lứa để thuê người đến lột. Câu “ Gái Nam Phổ ở lỗ trèo cau” nói lên cái uy của người con gái làng Nam Phổ dám làm những điều mà đàn , con trai Nam Phổ không làm được.Tham công tiếc việc,công dung ngôn hạnh người con gái Nam Phổ đều có hết, người con trai làng Nam Phổ thua xa. Điều nầy không phải tôi nói thêm đâu. Vì các chú rễ nào ở Huế mà có nàng dâu là người làng Nam Phổ thì biết rõ hơn tôi.

Hằng năm vào mùa nước lũ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, Huế đều có tổ chức đua ghe trên sông Phổ Lợi, đoạn từ chợ Nọ đến trước mặt huyện Phú Vang.Đến ngày dự thi các làng của huyện Phú Vang đều  gửi ghe về tham dự.Trước khi tham dự các ghe đều được đóng một cách công phu, có chạm rồng trước mũi,phụng sau lái và trước khi hạ thủy ghe  được đặt trước chánh điện của đình làng để dân chúng trong làng đến chiêm ngưỡng, khấn nguyện, cầu xin thần làng phò hộ cho đân làng gặp nhiều may mắn trong cuộc sống.

Vào thời tôi, dân chúng Nam Phổ hầu hết theo đạo Phật, nhà nào cũng là cái am nhỏ nằm trong khu vườn cau xanh rậm rạp. Đêm đêm, tiếng chuông, tiếng mỏ hòa với tiếng tụng niệm từ những căn nhà tranh ẩn khuất trong xóm vắng.Một thời gian tôi đã lớn lên trong tiếng chuông ngân và tiếng mỏ nhịp  mỗi đêm của mẹ tôi và của hàng xóm. Tôi nhớ lắm thời xa xưa đó, một nơi bình yên đã mất.

Năm 2001, tôi về Huế nhân lúc mẹ tôi lâm trọng bệnh. Trở lại căn nhà xưa, gặp lại mẹ tôi khi bà đang hôn mê trên giường bệnh, gặp lại chị em và bà con thân thuộc sau bao năm xa cách. Nhìn lại cảnh cũ người xưa tôi không sao kìm hảm bao cảm xúc. Sau một tuần trong căn nhà cũ mà từ lúc nằm nôi cho đến khi hai mươi tuổi xa nhà, nay tôi được nhìn lại, tưởng nhớ bao kỷ niệm như còn đâu đây.Tôi bước ra sau cánh đồng và phóng mắt nhìn về con đê, con rạch và lũy tre làng nhưng tôi không sao đủ can đảm cởi đôi giày đang mang để băng qua con đường đất lầy lội để đến tận nơi, nhìn tận mắt cái không gian mà tôi đã để lại đằng sau. Tôi cũng không dám đi bộ trên con đường cái mà bao năm là bạn đồng hành của tôi đến trường Quốc Học, Huế vì nay con đường đầy xe cộ, mịt mù cát bụi và không còn những cây sầu đông đầy hoa tím mà tôi yêu thích.

Tôi tự nghĩ có lẽ mình không còn liên quan gì đến xứ sở nầy nữa, hay mình chỉ là người xa lạ ở một nơi nào đó vừa mới đến nơi đây mặc dầu tai tôi vẫn nghe ngoài bờ tre vọng lại tiếng chim cu và trong vườn nhà ai vẫn có hoa bưởi hoa cau trắng xóa lẫn với hoa mai vàng đang nở rộ đón xuân về. Và tôi cũng còn rung động khi nhớ lại hồi đó cứ mỗi lần mưa rơi tầm tả, mấy bạn học cùng làng Nam Phổ phải chạy lúp xúp trên con đường nầy dưới cơn lạnh để kịp đến trường.

 Dù thời cuộc thay đổi, cuộc sống của mẹ tôi  vẫn bình dị như bao phụ nữ quê ở Huế. Nay mặt bà, đôi tay bà đầy vết nhăn của thời gian nhưng bà vẫn im lặng chịu đựng bên cạnh vườn cau bụi chuối. Đã nhiều lần tôi đề nghị lãnh mẹ tôi qua Mỹ sống nhưng bà từ chối vì bà quen với lối sống ruộng vườn và con cháu. Gần một trăm năm sống tại căn nhà nầy mẹ tôi đã chứng kiến bao thay đổi, bao nghiệt ngã của gia đình và của đất nước, nhưng nay bà đang hạnh phúc bên con cháu vào giờ phút lâm chung.

Riêng tôi vẫn nhớ mãi những kỷ niệm không quên.

 

Cali ngày 23 tháng 3 năm 2018

Tam Giang Hoàng Đình Báu

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.