Hôm nay,  

Cái DVD Bằng Mười Cái Cưa

03/10/201700:00:00(Xem: 7769)
Cái DVD Bằng Mười Cái Cưa
TT Thành, WA
 

Mùa này là mùa ưa thích của hắn, mùa garage sale!  Ở tiểu bang mưa nhiều hơn nắng này thì mùa xuân hè nắng nhiều là garage rộ lên như nấm.  Năm nay hắn có thêm ông bạn tháp tùng, có cùng chí hướng nên có thêm phần hào hứng.

Trước tiên là hai chàng xồn xồn lãng tử nhắm vào các thứ để chữ “Free”  cái đã rồi tính gì thì tính.  Các thứ cho không này lại có nhiều món có chỗ xài mà khỏi phải mua mất tiền như mấy cái kềm cũ sét hay mấy caí lượt chải đầu, xấp giấy trắng chưa xài vân vân và vân vân.  Garage sale thì có nhà có đồ tốt mà giá bán lại rẽ còn thêm mặc cả được nữa.  Còn có nhà thì bán đồ cũ mèn lại giá mắc!  Hên xui! Chính đó mới là cái thú của những chuyến lãng du, lùng sụt.

Thứ bảy rồi gặp hên, hai chàng vào trúng được khu bán đồ tốt lại gía rẻ.  Hắn hốt một mớ đủ thứ nào là nồi niêu, áo thung cho bà xã để về bả khỏi nhằn là cứ đi thu gom đồ cũ về mắc công đi đổ.  Hắn vớ được hai cái DVD còn mới có vẻ là phim hay chỉ có 50 xu mội cái.  Anh bạn hắn thấy một cây cưa điện nằm gầm bàn lên coi coi rồi   bỏ xuống.  Hắn chộp ngay vì hắn đang cần một cái để cưa mấy nhánh cây bị gió bão thôi gãy mùa rồi.  Hắn đem lại hỏi bà bán thì bà ta nói giá năm đồng nhưng noí cho hắn biết thêm là chỉ mới xài có mấy lần rồi để trong kho cả sáu năm nay chưa xài tới.  Hắn hỏi xem chỗ nào có ổ điện để cắm chạy thử thì bà ấy nói không dám cho thử vì sợ không an toàn.  Hắn cần quá nên nói mua đại với giá “hên xui” là ba đồng thì bà ta ok.  Hắn mừng trong lòng hy vọng là nó chạy đươc.  Hắn bị mừng hụt!

Sau nhiều lần cắm thử hết ổ điện này tới ổ nọ cây cưa vẫn mằn im không lên tiếng!  Rồi bị thua ba đồng rối.  Hắn bỏ cây cưa vào góc kho rồi sực nhớ tới hai cái DVD.   Một cái có cốt truyện phiêu lưu mạo hiểm sôi động có tánh cách hài hước và nhạc cũng hay.  Caí thứ nhí có cái tựa hơi lạ: “Kite Runner”, xin tạm dịch “Trẻ chạy diều”, cốt truyện xãy ra ở Áp-Ga- Nit -Tăng thời đám cộng quân Xô Việt xâm chiếm xứ này khoản năm 1979.  Câu chuyện thật cảm động và có ý nghĩa dân tộc, ái quốc đươc bắt đầu bằng cảnh trẻ thả diều ở làng quê nghèo xứ Áp gan và cũng đươc chấm dứt bằng cảnh thả diều nhưng ở vùng trời xanh California, xứ Mỹ.   

Bé trai tên Amir, con chủ nhà khá giả và bé trai tên Hassan là con người tớ  nhưng thật ra Hassan là con riêng của cha Amir khi ăn nằm với người tớ gái. Hai đứa chơi thân với nhau nhưng tính tình lại khác nhau.  Amir thì có điếu kiện học hành thích viết văn.  Hassan vì là con người tớ nên không được học và phải phụ cha làm mọi  việc trong nhà.  Amir thì tánh nhu nhược , Hassan thì gan dạ và trung thành với bạn mình.  Khi bị những trẻ lớn hơn bắt nạt thì Hassan gan dạ đứng ra bào vệ cho Amir đang run sợ.  Trong một cuộc thi thả dìều, Amir và Hassan thắng cuộc.  Đám du đãng đòi Hassan phải nộp con diều thắng cuộc cho chúng nhưng dù bị đánh đạp Hassan vẫn không làm theo lời chúng.  Amir đứng xa lén nhìn và trong lòng bỗng nổi lên lòng ganh ghét tính dũng cảm của người bạn mình.  Sau đó Amir lén bỏ cái đồng hồ đeo tay của mình dưới nệm của Hassan và đi mét với cha.  Hassan chấp nhận là mình có làm để Amir không trừng phạt nếu cha biết được sự thật.  Tuy ông cha tha thứ nhưng cha của Hassan xin thôi việc và dẫn con bỏ đi vì thấy bị nhục vì con của mình.   Khi xe tăng của bọn Xô Viết tiến vào, cha của Amir cùng con bỏ xứ qua ẩn náu ở Pakistan.   Khi người bạn ở lại giữ nhà hỏi chừng nào ông về lại thì ông trả lời một cách chắc chắn là:


- Không biết chừng nào nhưng bọn  xâm lược đó  không thề nào chiếm mãi xứ này!

Một thời gian sau hai cha con định cư tại  một thành phố có đông dân tỵ nạn Áp ghan ở California.

Hôm nay là ngày ra trường bốn năm đại học của Amir.  Hằng ngày Amir vẫn phụ cha mình bán hàng ở khu chợ trời. Trong khu chợ  đa số là người Afghan mà cha Amir có bàn bày bán hàng sản phẩm của xứ mình thì kế bên có bàn của một cô gái con của một ông tướng Áp ghan khi xưa cũng bày bán.

    Cha của Amir rất thân với ông tướng  lưu vong này vì hai người có cùng lý tưởng chiến đấu cho dân tộc.  Amir phải lòng cô con gái và có lần đưa cho cô một phần bản thaỏ của truyện mình để cô đọc. Tình cờ ông tướng tới và hỏi Amir đưa cho con gái mình tập giấy gì.   Amir trả lời là truyện của mình viết.  Ông hỏi:

- Cậu viết truyện loại gì vậy?

- Cháu viết tiểu thuyết.

Ông cầm tập giấy vứt vào thùng rác rồi nói:

- Cậu nên viết về hoàn cảnh đau thương của xứ mình thì hơn!

Cô con gái nhìn nét mặt ngỡ ngàng của chàng với đầy e ngại.

    Sau đó anh nhờ cha cầu hôn cho mình cô con gái và đươc ông tướng chấp thuận.  Đám cưới diễn ra đúng theo phong tục của người Afghan trên đất Mỹ.   Một thời gian lâu sau khi cưới hai người vẫn chưa có con rồi ông cha thì phải vào bệnh viện vì bịnh phổi.  Khi đưa ông về nhà được vài ngày thì bệnh trở nên nặng, trưóc khi ra đi mãi mãi ông cho Amir biết Hassan là con riêng của ông và ông muốn Amir về lại xứ để tìm Hassan.  

Trong trí Amir diễn lại những hình ảnh khi còn bé và cảm thấy trong lòng đầy hối hận vì những gì mình đã gây cho Hassan và lòng hy sinh cao quý người em cùng cha của mình.  Mang râu gỉả, đầu quấn khăn  như cách của một người dân bản xứ, Amir vượt biên giới Pakistan về Áp –Ga- Nit -Tăng để tìm ngươì em khi xưa.  Sau nhiều lần dọ thăm , Amir được người dẫn đường cho biết là Hassan đang bị nằm trong vùng kiểm soát của quân khủng bố Taliban.  “Không vào hang hùm sao bắt được hổ”, Amir liều mình vào tận hang ổ của quân Taliban.  Sau khi được gặp tên thủ lảnh, Amir biết được là Hassan đã chết nhưng có để lại một đứa con trai bị bán cho bọn Taliban làm nô lệ.  Amir phải chịu nhiều hành hạ để được chúng cho gặp đứa con trai, cháu của mình.  Chính nhờ đứa cháu mà Amir đã cùng thoát thân với nó để sau đó  đem nó về Mỹ sống với gia đình như là con của mình của mình.

Cảnh cuối của cuốn phim là Amir đã trao vào tay cháu mình sợi nhợ điều khiển con diều tại một công viên ở California để được thấy lại  hình ảnh khi xưa mà mình và Hassan đã cùng thả con diều hạng vô địch thuở còn bé xa xưa.

Cuốn phim ngoài viẹc nói lên tình bạn cao quý còn cho ta thấy hình ảnh yêu quê hương và dân tộc mình của người Afghan lưu vong nhưng không hề để bị mất gốc.

Cuốn phim làm hắn xúc động vì nó đã nói lên được lòng yêu nước và hoài hương của những con người lưu vong phải rời bỏ quê hương nhưng không bao giờ bị tha hoá và vẫn gợi lại được tình yêu thương đồng bào nơi thế hệ con cháu của mình.

Như vậy là dù bị mất ba đồng cho cái cưa không xài đưọc nhưng xem cái DVD đó hắn lại  cảm nhận cái nhiệm vụ mà lớp người như hắn phải làm gì để tạo một niềm tin và ý chí phục vụ cho dân tộc và cho đồng bào của mình khi được ở một đất nước tự do.
‘Thật đúng là caí DVD này đối vơí mình thì giá trị thật của nó bằng cả mười cái cưa.’  Hắn khoan khoái tự nhủ như vậy.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.