Hôm nay,  

Mai Elliot: Chiến tranh là một tai họa và chỉ nên chiến đấu như một lựa chọn cuối cùng

09/09/201715:43:00(Xem: 11207)

Mai Elliot: Chiến tranh là một tai họa và chỉ nên chiến đấu như một lựa chọn cuối cùng

blank

New America Media, News Report, Andrew LamPosted: Sep 05, 2017

Mai Elliott là một học giả và tác giả của cuốn "The Willowed Sacred Willow: 4 thế hệ trong cuộc đời của một gia đình Việt," một hồi ký cá nhân và gia đình được đề cử giải Pulitzer Prize. Bà cũng là tác giả của cuốn "RAND ở Đông Nam Á: Một lịch sử của thời kỳ chiến tranh Việt Nam". Sinh ra ở Việt Nam và lớn lên ở Hà Nội và Sài Gòn, tác giả tốt nghiệp Đại học Georgetown ở Washington DC và hiện đang sinh sống tại Los Angeles. Elliot là một trong số gần 100 người phỏng vấn trong "The VIetnam War," bộ phim mười phần của Lynn Novick và Ken Burns, loạt phim tài liệu dài 18 giờ, sẽ ra mắt vào ngày 17 tháng 9 năm 2017 trên PBS. Cô đã nói chuyện với biên tập viên của New America Media, Andrew Lam.

English version: Mai Elliot: War is a Scourge and Should Only Be Fought As A Last Resort
 
Theo ước mong của bà, thì phim tài liệu “The Vietnam War” sẽ làm tỏ rõ những gì về quá khứ? 

Quá khứ mở đầu cho hiện tại. Quá khứ có ảnh hưởng đến hiện tại vì hiện tại là do những nguồn lịch sử và những sức mạnh đương thời chi phối xã hội và quốc gia đào tạo nên. Khi nhìn sâu vào quá khứ, chúng ta có thể hiểu tại sao chúng ra đã đi đến giai đoạn hiện tại. Như ông Ken Burns và bà Lynn Novick, đạo diễn phim tài liệu “The Vietnam War,” đã giải thích, tại nước Mỹ hiện nay, sự nghi ngờ không tin cậy chính phủ, sự chia rẽ, sự bất đồng và phẫn nộ, thiếu thiện chí bàn luận ôn hòa với những đối thủ của mình, điều này sinh ra trong thời gian Mỹ tham gia chiến tranh của Việt Nam. Ở Việt Nam, những sự biến chuyến xã hội và chính quyền hiện giờ cũng có nguồn gốc trong chiến tranh Việt Nam. 

51XSytpqJtL._SX329_BO1,204,203,200_.jpg 
Phim tài liệu vạch lên những điều sai lầm đã đưa đến thảm hại. Tôi xin nhắc lại lời nói của ông George Santayana mà nhiều người thường nhắc đến, “nếu chúng ta không hiểu quá khứ, chúng ta sẽ nhất định lập lại những gì sai lầm trong quá khứ.” Vì vậy, tìm hiểu những gì đã xảy ra trong chiến tranh Việt Nam và lý do tại sao những sự việc này đã xảy ra sẽ giúp chúng ta hiểu những sai lầm này. Vì những sai lầm này đã đưa đến thảm hại lớn lao, chúng ta càng cần phải hiểu biết những sự việc xảy ra trong chiến tranh và tìm cách tránh không lặp lại những sai lầm này. 

Bộ phim đưa đến ta những sự việc khủng khiếp của chiến tranh. Hy vọng lớn lao của tôi là bộ phim sẽ như là một liều thuốc giải khuây cho các cá nhân và gia đình đã trải qua những tổn thất to lớn. Bộ phim gợi nhắc chúng ta là tất cả những ai bị mắc trong mạng lưới của chiến tranh – bất cứ ở phía nào trong cuộc chiến – đều bị tổn thương và tổn thất, nhiều khi rất khủng khiếp. Làm như vậy, bộ phim có thể giúp chúng ta hiểu biết và thông cảm với những người bên kia vĩ tuyến. Giống như khi chúng ta tháo băng ra để không khí làm lành vết thương, tôi mong bộ phim sẽ giúp những vết thương do chiến tranh tạo nên – nếu những vết thương này còn tồn tại – hàn gắn lại. 

Chúng ta đang sống trong thời đại chiến tranh không ngừng, bộ phim nhắc nhở rằng chiến tranh là một tai họa khủng khiếp và các quốc gia nên tránh chiến tranh hết mức, trừ khi tuyệt đối không còn giải pháp nào khác. 

Screen Shot 2017-09-09 at 9.29.59 AM.png 

Bà được đạo diễn bộ phim phỏng vấn khá dài. Theo bà nghĩ thì phim này có thực sự miêu tả tất cả các phía trong chiến tranh Việt Nam hay không? 

Bà Lynn Novick phỏng vấn tôi trong hai giờ đồng hồ. Chúng tôi bàn luận rất nhiều vấn đề để cố gắng hết mức thâu lại những khía cạnh của chiến tranh và những kinh nghiệm bản thân của tôi và của gia đình tôi. Tôi chỉ là một trong số 100 người được phỏng vấn. Họ phỏng vấn nhiều người như vậy vì họ muốn bao trùm tối đa càng nhiều ý nghĩ, ý kiến, kinh nghiệm càng tốt. Như ông Ken Burns đã nói, mục đích của ông là “không để tay lên cân” lịch sử, thiên vị bên nào, và để trưng bày nhiều sự thật của chiến tranh vì trong chiến tranh không chỉ có một sự thật, mà có rất nhiều sự thật. Theo tôi nghĩ thì ông Ken Burns, bà Lynn Novick và ông Geoffrey Ward (người biên kịch), đã thành công trong khía cạnh này. Bộ phim bao gồm tiếng nói và sự hiện diện của nhiều người thường dân ở miền Bắc và miền Nam, và nhất là những quân lính của Việt Cộng và ngoài Bắc trong thời chiến – những tiếng nói và những mẩu chuyện mà vì hoàn cảnh không cho phép, chúng ta ít được nghe và ít được biết. Theo ý kiến của tôi thì chính vì bộ phim bao gồm sự hiện diện bi tráng và tiếng nói nhạy cảm của người Việt của cả hai bên đã làm cho bộ phim phong phú hơn, rất khác so với nhiều phim tài liệu chỉ nói đến kinh nghiệm của những người thanh niên Mỹ bị quân đội gửi sang Việt Nam chiến đấu, rồi trở về Mỹ cảm thấy bỡ ngỡ và gặp khó khăn tiếp nối lại đời sống thường dân hay trở về Mỹ phản đối, chống lại chiến tranh. 

Nhờ vậy, bộ phim trở thành như một bức tranh muôn màu, phong phú, lôi cuốn, hấp dẫn và cảm động. 

Theo bà thì bộ phim thiếu sót những gì? Có vấn đề gì người Mỹ không hiểu hay không biết về Việt Nam? 

Phim tài liệu dài 18 tiếng đồng hồ, nhưng cũng không thể trở thành một bộ bách khoa toàn thư về cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhưng các hoan thanh vien không có tham vọng biến bộ phim thành một bách khoa toàn thư. Mục tiêu của họ là kể chuyện chiến tranh qua con mắt và kinh nghiệm của những người trong cuộc và những người đã chứng kiến cuộc chiến. Họ không phỏng vấn các nhà lãnh đạo, hay đi sâu và các chính sách hay chiến lược, hay trình bày những thống kê của chiến tranh. Như vậy có thể nói phim không phải là toàn diện. Nhưng mục tiêu của họ không phải là trình bày tất cả các chi tiết từ A cho đến Z. Mục tiêu của họ là trình bày những kinh nghiệm cá nhân và những sự tổn thất, mất mát của nước Mỹ và xã hội Mỹ. 

Phần đông người Mỹ, khi họ nghĩ đến Việt Nam – nếu họ nghĩ đến – thì họ nghĩ đến chiến tranh Việt Nam. Khi họ nghĩ đến cuộc chiến, thì họ phần nhiều hay chỉ nghĩ đến vai trò của Mỹ và các sự tổn thất về sinh mạng và tiền của nước Mỹ phải hứng chịu. Vì vậy tôi mong muốn rắng bộ phim sẽ giúp họ hiểu biết tại sao người Việt Nam chúng ta – trong cả hai phe – đã chiến đấu mãnh liệt, và giúp người Mỹ biết những sự hy sinh khốc liệt của các cá nhân và gia đình của người Việt Nam.

Mục đích của phim tài liệu là diễn tả chiến tranh và nêu lên sự tổn thất sinh mạng và tài của. Phim kết thúc khi chiến tranh kết thúc, và không kéo dài đến giai đoạn sau 1975. Như vậy, có thể người Mỹ không biết và không hiểu hậu quả của chiến tranh. Họ không biết Việt Nam đã trải qua giai đoạn trần ai như thế nào, nhất là sự khốn khó những người theo chế độ cũ gặp phải sau khi súng đạn ngừng bắn, và họ không hiểu lý do tại sao hàng trăm hàng ngàn người vượt biên trên các con thuyền mong manh, so thien. 

Có lẽ người Mỹ biết Việt Nam hiện nay nhiều hơn – nhưng chỉ là một nơi để thăm viếng với tính cách du lịch. 

Chúng ta có thể rút được những bài học gì vì đây là những việc đã xảy ra 40 năm trước đây? Tại sao chiến tranh Việt Nam có tầm quan trọng? 

Đối với nước Mỹ, chiến tranh Việt Nam cho thấy là dù Hoa Kỳ có quyền lực vĩ đại đi nữa, họ không thể bắt buộc được một quốc gia khác phải làm theo ý muốn, ý đồ của họ. Một bài học khác là trước khi nước Mỹ can thiệp và tham gia trong một cuộc chiến ở hải ngoại, họ nên tìm hiểu rõ cuộc chiến này có dính líu gì đến lợi ích quốc gia của họ không và họ nên tìm hiểu rõ lý do tại sao cuộc chiến xảy ra và các phe đánh nhau là ai, có những mục đích gì. Nếu họ ủng hộ một phe không có triển vọng, họ sẽ hứng một thảm họa lớn lao. Nhưng nếu họ ủng hộ một phe có triển vọng, họ cũng không thể áp đặt ý muốn, ý chí của họ và đi đến thắng lợi. Chiến tranh Việt Nam cũng cho thấy chiến lược giúp đồng minh xây dựng đất nước rất khó khăn thực hiện khi điều kiện không cho phép thành công. Vì vậy, tôi nghĩ, bài học cho nước Mỹ là “nhìn trước khi nhảy vào” một cuộc chiến ngoại bang. 

Đối với nước Việt Nam, cuộc chiến tranh chứng tỏ rằng nếu hai bên cố thủ thì nhân dân sẽ thiệt hại. Hai bên quốc gia và cộng sản đều không muốn thỏa hiệp và nhất định đánh đến cùng. Bên này sợ bên kia, và về phía cộng sản thì họ có tham vọng hoàn thành cuộc cách mạng của họ và họ muốn kiểm soát toàn thể nước Việt Nam. Đối với họ đây là một nhiệm vụ mà Hiệp Định Geneve năm 1954 đã làm gián đoạn, với kết quả là họ chỉ được kiểm soát miền Bắc mà thôi. Bộ phim tài liệu không đặt các câu hỏi, “nếu” như thế này, thế khác, thì kết quả ra sao. Nhưng chúng ta có thể đặt một câu hỏi có tính chất giả thuyết, “Nếu miền Bắc và miền Nam đã mềm dẻo, và sẵn sàng thương lượng, bầu cử thống nhất đất nước năm 1956 như Hiệp Định Geneve quy định, thay vì khởi chiến, thì đất nước Việt Nam đã ra sao? Nếu có thỏa hiệp thì nước Việt Nam đã có thể tránh cuộc chiến tranh đẫm máu? 

Trong quá trình cuộc chiến, quan điểm của bà về miền Băc và chế độ cộng sản thay đổi. Xin bà giải thích. 

Quan điểm về cuộc chiến tranh của tôi thay đổi trong khi cuộc chiến diễn biến vì tôi nghĩ rằng nếu không có hòa bình thì nước Việt Nam và nhất là những người nông dân ở miền Nam sẽ bị tổn hại hơn nữa. Tôi ủng hộ cuộc chiến vì tôi sợ rằng nếu cộng sản thắng lợi thì gia đình tôi sẽ bị tai họa. Nhưng chiến tranh cứ kéo dài mãi, không biết bao giờ mới chấm dứt, và tôi nhìn thấy người dân càng ngày càng chết càng đông và nước Việt Nam càng ngày càng bị tàn phá, tôi bắt đầu nghĩ phải có hòa bình. Cuc chang nua, hòa bình dưới một chế độ cộng sản nếu họ là bên thắng cuộc vẫn hơn là tiếp tục bắn giết, nhất là đối với những nông dân đang tổn thất nặng nề. 

Tôi nghĩ nếu cộng sản thắng lợi, gia đình tôi sẽ khổ cực, nhưng chắc gia đình tôi sẽ sống sót, như những người bà con họ hàng của tôi ở ngoài Bắc đã sống dưới chế độ cộng sản. Nhưng sau khi hòa bình lập lại năm 1975 thì những bà con họ hàng tôi còn ở lại miền Nam đã gặp những khó khăn dữ dội. Họ bị doi. Chính quyền công sản kỳ thị họ và coi khinh họ vì họ đã theo phía thất bại. Anh cả của tôi bị giam trong trại cải tạo trong năm năm. 

Bà đã sống ở hải ngoại, xa nước Việt Nam trong nhiều năm. Mối quan hệ của bả đối với quê hương ra sao ?

Việt Nam vẫn là quê hương của tôi. Tôi sinh trưởng, lớn lên ở đó. Gia đình tôi đã sống ở đó. Mồ mả tổ tiên của tôi ở đó. Gia đình tôi và tôi có bao nhiêu kỷ niệm gắn bó với Việt Nam. Tôi là thành tựu của những ảnh hưởng của Việt Nam cũng như của Mỹ. Tôi vẫn còn gắn bó với đất nước, quê hương. Tuy đã sống ở Mỹ lâu hơn là ở Việt Nam, quê hương vẫn lôi cuốn tôi về tình cảm. Theo văn hóa Việt Nam, mình sinh ra ở đâu thì mình thuộc về đó. Tôi cảm thấy như vậy đối với Việt Nam. Nhưng tôi cũng phải nói là khi tôi về viếng thăm Việt Nam, nhiều lúc tôi cảm thấy khác lạ vì tôi đã quen mức sống ở Mỹ, tôi đã được Mỹ hóa, và tôi thích nhiều khía cạnh văn hóa Mỹ và đời sống Mỹ mà ở Việt Nam không có. Tôi biết nhiều Việt Kiều hay về Việt Nam thường xuyên, họ rất thích về. Tôi chỉ về khi cần khảo cứu viết sách hay khi nào xum họp gia đình. Tôi không có hằn thù gì đối với nước Việt Nam. Tôi rất quý trọng, thương mến người dân Việt, và tôi cầu mong đời sống của họ càng ngày càng khá lên, và tương lai của họ sẽ tươi sáng và hạnh phúc. 

Bà đang viết sách về đề tài gì ? 

Tôi mới viết xong một quyển tiểu thuyết và tôi mong sẽ được xuất bản. Tôi mới soạn lại một chút quyển sách “Cây dương liễu màu nhiệm ” (The Sacred Willow) về gia đình tôi, và nhà xuất bản Oxford University Press. Mới in xong và phân phát. 

Tôi bắt đầu nghiên cứu để viết một chương đóng góp vào một bộ sách, ba quyển, về chiến tranh Việt Nam do Cambridge University Press xuất bản. Sau khi viết xong tôi dự định viết một quyển sách về một đề tài không liên hệ đến Việt Nam. Tôi có vài ý kiến nhưng chưa quyết định chọn lựa đề tài nào. 
Nguồn: http://newamericamedia.org/2017/09/may-elliot-chin-tranh-la-mt-tai-ha-va-ch-nen-chin-du-nh-mt-la-chn-cui-cung.php
.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tác phẩm Metamorphosis, tạm dịch Biến Dạng của Franz Kafka mở đầu bằng một trong những câu văn gây ám ảnh nhất trong văn học thế giới: khi Gregor Samsa thức dậy và phát hiện mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ. Không có lời cảnh báo, không có lời giải thích, không có sự chuẩn bị kịch tính nào. Cú sốc đến ngay lập tức – và đó là thiên tài của Kafka. Ông không dẫn dắt người đọc bước nhẹ nhàng vào cơn ác mộng của Gregor Samsa. Ông ném độc giả của ông thẳng vào đó, buộc chúng ta phải đối mặt với sự phi lý của sự tồn tại mà không có sự an ủi của logic hay lý trí.
Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.