Hôm nay,  

Cú “Knock Out” của Anicca

02/08/201702:09:00(Xem: 6305)
"Ai cũng có một kế hoạch riêng cho đến khi hắn bị đấm cho vỡ mồm" -MikeTyson

Tôi thích câu nói này của Mike Tyson vì nó mang  ý nghĩa sâu xa, vượt ngoài phạm vi của bộ môn Boxing. Nó có tác dụng  cảnh tỉnh chúng ta về một sự thật hay bị lãng quên trong mọi sinh hoạt của đời sống.  Sự thật đó là:

Bất cứ lúc nào và ở đâu, ai cũng có thể bị đấu sĩ  Vô Thường “đánh cho vỡ mồm”!  Và rất có thể… không chừng đó cũng là lần gục ngã sau cùng, tức là cái Chết (Death).

Hầu hết chúng ta có đều có kế hoạch riêng cho chính mình trong cuộc mưu sinh.  Các kế hoạch đều có đặc điểm chung là chúng giúp ta hình dung và tưởng tượng về tương lai tươi sáng như thể chúng ta có thể sống mãi mãi đời đời.  Tuy nhiên, bản chất đời sống chẳng bao giờ như ta hoạch định, không những là không thể đoán trước, mà còn thực sự  hỗn mang từ  những nguyên lý căn bản nhất của chính nó:  Đó chính là nguyên lý trùng trùng duyên khởi mà đức Thế Tôn đã tuyên bố khi thành đạo. Chính Duyên Khởi đã cung cấp năng lực vô song cho  "Anicca"  (Vô thường) để đánh bại tất cả các ước mơ, hoạch định, kỳ vọng của tất cả chúng ta. Vì lẽ? “Phàm cái gì được sanh ra (do duyên khởi) cái đó sẽ bị đoạn diệt!”  Đây là một sự thật hiển nhiên như sự thật của trọng trường: “Phàm cái gì được ném lên, cái đó phải rơi xuống!”

Trong cuộc đời này, những hoạch định của chúng ta chắc chắn sẽ có  lúc bị Anicca (tức là Vô Thường) "đấm cho vỡ mồm". Cú đấm có thể mạnh hay nhẹ khác nhau, và thường rất bất ngờ, đúng theo phong cách ra đòn của Anicca. Nó có thể là một cơn bạo bệnh,  mất công việc làm, một vụ khủng bố, một cú động đất,  một sự phản bội, sự ra đi của người thân, một tai nạn giao thông,  hay bất cứ điều gì…

Sau những “cú đấm” như vậy, tùy theo ý chí, ta có thể gục ngã, hay gượng dậy để đi tiếp.  Mỗi một lần “gục ngã-gượng dậy” là một bài học xương máu.  Con người  gượng dậy sẽ là một con người mới với kế hoạch mới  vì kế hoạch cũ và những  giá trị cũ đã vỡ tan nát cùng với lần gục ngã trước.

Vòng xoáy “gục ngã-gượng dậy” này có thể lập đi lập lại cho đến khi nào ta bị một “cú đấm KO”.   Đó được gọi là “lần gục ngã sau cùng” vì sau “cú đấm KO” đó, ta sẽ không còn gượng dậy nữa. Đó là cái Chết.  Tất cả kế hoạch sẽ chấm dứt:  Lúc đó sẽ không còn ai trên cõi đời này ngồi đó để thẩm định, đánh giá sự thành công hay thất bại của các kế hoạch của ta nữa. Bài học cuối cùng của lần gục ngã sau cùng đó lại chính là “ý nghĩa của sự sống”- là điều mà hầu hết chúng ta đã vô cùng hoang phí lúc sinh thời.

Chết là sự chấm dứt tất cả các kế hoạch.  Nó có tác dụng chọc vở tất cả “bong bóng xà phòng” của trí tưởng tượng, của những dự phóng tương lai trong các hoạch định của chúng ta lúc còn sống.   Cái Chết phơi bày sự vô nghĩa, phủ nhận mọi giá trị của tất cả các kế hoạch mà ta thường hay trân quý nâng niu và tự hào lúc còn sống.

Ta khổ đau một đời, để chết trong tình cờ

Ta tìm nhau một thời, để mất nhau vài giờ

(Tưởng Niệm, Nhạc Trầm Tử Thiêng)

Giống như con mèo đen sẽ nổi bật trên nền vôi trắng, ý nghĩa của đời sống sẽ chỉ hiển lộ trên nền của Sự Chết chớ không phải trong những hoạch định mưu sinh. Vì thế, cho dầu bạn có lên một kế hoạch hoàn hảo cho đời sống, cho một cuộc retire trong nhung lụa sang trọng,  cuộc đời đó vẫn không có ý nghĩa gì nếu bạn không nhận thức được trọn vẹn ý nghĩa của cái Chết.  Đời sống của bạn chỉ có ý nghĩ nếu nó biết lấy cái Chết làm nền cho mọi sinh hoạt để tồn tại.  Nếu như đời sống lấy những dự phóng của các hoạch định làm nền, thì đời sống đó trở nên tham lam và ích kỹ, và không có ý nghĩ gì một khi cái Chết xộc đến.

Một người sống như là sẽ chết vào bất cứ lúc nào sẽ có một tâm thức, một phong thái hoàn toàn khác hẳn với một người luôn nghĩ rằng hắn ta sẽ sống mãi mãi!

Bạn có thể sở hữu nhiều vật chất trên thế gian và được nhiều người công nhận trong hiện tại, nhưng sự sở hữu đó mang tính quy ước và rất tạm bợ.  Mọi thứ sẽ không còn là “của bạn” khi cái chết đến.  Tuy nhiên chỉ có cái Chết là bạn thực-sự-sở-hữu nó một cách trọn vẹn.  Vừa sanh ra đời là ta đã có thể chết bất cứ lúc nào.  Qua bao năm bôn ba loay hoay hoạch định, sang hay hèn, thông minh hay ngu dốt, giàu hay nghèo, rồi chung cuộc cũng phải chết.  Đó là điểm quy tụ duy nhất thật sự  không phân biệt tôn giáo, giới tính, giai cấp xã hội. Khi cái Chết đến, bạn đi một mình:  Không một ai trên thế gian có thể chết thay cho bạn.  Đó là điều duy nhất dành riêng cho bạn mà không một quyền năng tối cao nào có thể tước đoạt.

Chết là một việc rất riêng tư:  Chính nó mang lại cho bạn ý nghĩa của đời sống này. Vô tình quên lãng điều này, bạn sẽ có một đời sống rất nghèo nàn và ích kỷ.  Lúc nào cũng nhớ đến điều này, ghi nó trong tâm trong mọi hành vi, cử chỉ, và lời nói, bạn sẽ có một đời sống đầy ý nghĩa và vô cùng sung mãn. Có vô vàn ví dụ chung quanh bạn về gương thành công của những con người phải đối diện trực tiếp với cái Chết trong từng sát na của đời sống.

Cái Chết là sở hữu và khả năng duy nhất của bạn không bị bất kỳ ai tước đoạt, là nền tảng làm cho hiển lộ ý-nghĩa-của-đời-sống của bạn trên thế gian này.  Tuy nhiên thái độ của đa số chúng ta đối với cái Chết hoàn toàn không phù hợp.  Chúng ta không dám nhìn thẳng vào nó, tìm mọi cách để tránh né nói đến cái Chết bằng mọi phương tiện. Trong ngôn ngữ của tất cà các dân tộc, từ “Chết” là từ có nhiều từ đồng nghĩa nhất vì đa số chúng ta tránh nói đến nó.

Khi tham dự các tang lễ, chúng ta chỉ kinh nghiệm được cái Chết của người khác, không một ai có thể kinh nghiệm được cái Chết của chính mình.  Thấu hiểu về ý nghĩa của cái Chết như là nền tảng của sự sống là điều cần thiết ở bước đầu, câu hỏi kế tiếp đề ra là: “Làm sao kinh nghiệm được cái Chết một cách trực tiếp, nhất là cái Chết của chính mình?”

Đây là một câu hỏi khó, chúng ta chỉ kinh nghiệm được cái Chết của người khác, và điều đó thường làm cho ta sợ hãi. Nổi sợ hãi này làm cho ta né tránh nhìn thảng vào cái Chết của chính mình. Ta rõ biết ta cũng phải chết, nhưng ta đẩy sự thật tất yếu này vào tương lai, trám nổi sợ hãi đó bằng những lo toan hiện tại. Ta nghĩ rằng: “Đành rằng ta phải chết, nhưng chưa phải là bây giờ”.  Và thế là sự thật về cái Chết bị vùi lấp bên dưới những kế hoạch cho tương lai của chúng ta.  Điều khó thứ hai của câu hỏi trên là: Cái Chết là một sự kiện rất đặt biệt.  Đời sống chúng ta là một chuổi các sự kiện.  Khi ta còn sống, nếu muốn, ta có thể hồi tưởng lại các sự kiện đã qua trong đời.  Nhưng khi sự-kiện-Chết đến với ta, ta không còn có mặt nơi đó để hồi tưởng gì nữa cả.  Chết là sự kiện sau cùng của đời sống.  Nó là sự kiện đóng lại tất cả các sự kiện khác.  Đặc tính này của cái Chết khiến cho nó không thể được kinh nghiệm một cách trực tiếp như là các kinh nghiệm khác.  Vì khi cái Chết đến, không còn kinh nghiệm gì nữa cả.

Như vậy trở lại câu hỏi: “Làm thế nào chúng ta có thể kinh nghiệm trực tiếp được cái Chết của chính mình?” Chính vì khi cái Chết đến thì không còn kinh nghiệm nữa, cho nên cách duy nhất để kinh nghiệm cái Chết là kinh nghiệm nó như là một “khả dĩ” chớ không phải là một sự kiện. Khả dĩ hiểu theo ý nghĩa là một điều có thể xảy ra ngay bây giờ và ở đây với một xác xuất cao.  Hơn thế nữa điều-khã-dĩ đó là một kinh nghiệm duy nhất, dành riêng cho chính ta, nhưng hoàn toàn xa lạ vì ta chưa từng trảy qua bao giờ. Điều khả dĩ này là một điều vô cùng chắc chắn. Sự chắc chắn xảy ra của điều khả dĩ này còn chắc hơn những tình yêu bất diệt mà người đời thường hay thề thốt.  Độ xác thực của cái Chết thậm chí còn chắc chắn hơn cả việc mặt trời sẽ mọc ở hướng đông vào sáng mai.

Tóm lại, cái Chết chính là chìa khóa khai mở ý nghĩa của đời sống của ta. Nó là cái duy nhất thực sự là “cái- của- ta”, không có cái gì khác gọi là “cái-của-ta” khi cái Chết đến.   Không ai có thể chết thay cho ta được.  Chết là điều chắc chắn nhất trên thế gian mà ta có thể đặt trọn niềm tin vào tính xác thực của nó. Sự xác thực của nó còn cao hơn sự hiện hữu của bất cứ thứ gì trên thế gian.

Sống trọn vẹn trong tính xác thực và tính khả dĩ của cái Chết sẽ làm cho đời sống sung mãn và tràn đầy ý nghĩa.

Hãy sống như phút này đây, là phút cuối.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
Cùng với tác phẩm của Dương Thu Hương-"Những Thiên Đường Mù", Trần Mạnh Hão-"Ly Thân", Bảo Ninh-"Nỗi buồn Chiến tranh", Phạm Thị Hoài-"Thiên sứ", "Tướng về hưu"của Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên dòng văn học phản kháng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.