Hôm nay,  

Sử Thi Iliade. Thi Hào Homère (bài 12) Thi Ca Khúc Xi : Chiến Công Vua Agamemnon

3/13/201708:42:00(View: 7893)
SỬ THI  ILIADE.   THI  HÀO  HOMÈRE (bài 12)
THI  CA  KHÚC  XI :  CHIẾN  CÔNG  VUA  AGAMEMNON  (câu 6385 đến 7096)
 
TS PHẠM TRỌNG CHÁNH  (NHẤT UYÊN) chuyển  ngữ  thơ  lục bát
 

TÓM LƯỢC :

                Sáng hôm sau trận chiến lại bắt đầu. Vua Agamemnon chiến thắng, chỉ huy đánh lui quân  Troie về thành. Nhưng Thần Vương Zeus phù hộ Hector, vua Agamemnon bị thương,  quân Hy Lạp  lại co cụm, mặc dù có Diomède, Ulysse, Ajax. Diomède bị thương bởi Pâris phải trở về trại, Ulysse bị thương được Ménélas và Ajax giải cứu. Pâris còn đã thương lương y Machaon và Eurypyle. Achille đứng trên cao quan sát tình hình thấy Machaon trở về gửi Patrocle đến hỏi thăm tin tức. Nestor vương lão thuyết phục Patrocle, nhắc lại lời dặn dò của vua Pélée và cha Patrocle, kể chuyện chiến công mình thời trai trẻ cầu xin Patrocle nói với Achille xuất trận cứu nguy quân Hy Lạp, nếu không thì Patrocle mượn khiên lao áo giáp  Achille xuất quân để quân Troie hoảng sợ. Patrocle trên đường về gặp Eurypyle bị thương, đem về trại và băng bó  cứu thương cho chàng.

 

Bình minh rời khỏi giường hồng,               6385

Rời Tịnh Không sáng cõi trần, cõi thiên. (Tithon)

Thần Vương gửi đến bên thuyền,

Bất Hoà Thần Nữ, phất trần trong tay.*

An Kinh doanh trại thuyền bày,

Giữa thuyền Uy Lĩnh, chạy dài hai bên.   6390

An Bắc, An Sinh đầu thuyền,

Nữ thần khơi náo nức lòng ba quân.

An Trích mặc áo giáp đồng,

Hai chân che phủ khủy bằng ngân kim.

Giáp che phủ ngực căng tròn,

Giáp vua Kỳ Thiết tiếp tân tặng quà.(Kinyrès)

Đảo Chuyết hưởng ứng vây Troa,(Chypre)

Dâng vua An Trích làm quà xuất chinh.

Mười hai băng sắt đen tuyền,

Mười hai vàng, thép, bạch kim nối dài.   6400

Cổ cao, rồng chạm vẽ vời,

Như cầu vòng bảy sắc trời mây mưa.

Hai cầu vai rủ hai tua,

Đỉnh đầu sáng chói, mũ vua bạc vàng.

Bao gươm bạc, cán sơn dương,

Khiên tròn, vòng bạc, giữa vòng bạch kim.

Chạm hình đầu quỷ Đột Tinh, (Gorgone)

Mắt nhìn máu lửa hoảng kinh trừng trừng.

Một dây da choàng qua mình,

Vẽ vời chạm một thanh long ba đầu.       6410

Nhà vua đội mũ hai ngù,

Bốn u thép nhọn, lắc lư đuôi dài.

Hai thanh lao nhọn trong tay,

Hạ Cơ phù hộ vua đầy thiên ân.(Héra)

Giáp binh tiến bước trùng trùng,

Ngựa xe dũng tướng nối hàng theo sau.

Thần Vương thổi trận sương đào,

Diêm Vương chờ đón hồn vào âm cung.

 

Quân Troa trên dãy đồi nương,

Quanh ba dũng tướng kiên cường tiền quân.      6420

Hải Tô vĩ đại kiêu hùng,

Bồ Ly Đa Mạc tài năng vẹn toàn. (Polydamas)

Âu Nê dân phục như thần(Énée)

Ba trai An Thế lĩnh hàng hậu quân.(Anténor)

Bồ Linh, An Giác anh hùng,(Polybe, Agénor)

An Ca Mạc tuổi trẻ trung như thần (Acamas)

Hải Tô đi trước hùng binh,

Khi thì dục ngựa đi vòng phía sau.

Điều quân binh kỵ tiếp mau,

Mình đồng chớp sáng chiến bào Thần Vương.    6430

Quân như thợ gặt mang liềm,

Đi theo từng luống cày trên ruộng đồng.

Nơi trang trại của phú nông.

Ngọn lao giáp trận máu hồng tuôn rơi.

Lao bay, tên bắn tơi bời,

Chẳng ai chạy trốn phận người đau thương.

Như bầy sói dữ hung hăng,

Nhanh chân xông xáo trên đồng máu xương.

Thần Bất Hòa vui thù hằn,

Là Thần duy nhất lăng xăng chiến trường.             6440

Các Thần khác chẳng dự bàn,

Trách hờn thiên vị, Thần Vương dành phần.

Cho Troa quân thắng chiến trường,

Thần Vương chẳng cải, chẳng màng ngồi riêng.

Mắt nhìn theo dõi việc trần,

Thành Troa cùng với chiến thuyền An Kinh.

Ngọn lao sáng loáng vẫy vung,

Sát nhân, nhân sát, hồng trần cuộc chơi.

Bình minh máu đỏ ngày dài,

Khắp vùng chiến địa thây người máu tanh.           6450

Như tiều phu nghỉ trưa ăn,

Để bờ thung lũng cây rừng ngỗn ngang.

Chán chê chém giết sức mòn,

Mới lui về nghỉ dưỡng quân bên thành.

An Gia Vương lập chiến công,

Mở đầu đã diệt anh hùng Bi Nô (Biénor)

Hàng đầu quân đội thành Troa,

Oai Lê phó tướng nhào vô đời tàn. (Oïlée)

Chạy xe đối mặt lãnh đòn,

Ngọn lao phóng thẳng xuyên ngang trán đầu.     6460

Óc trào trong mũ trắng phau,

Máu hồng nhuộm đỏ chiến bào, ngã lăn.

Mặc cho quân nhặt lao khiên,

Nhà vua lại hạ hai hoàng tử Biam,

Ân Thi Phổ con Chánh cung, (Antiphos)

Y Lộc dòng thứ, cầm cương ngựa hồng. (Isos)

Nổi danh dũng cảm chiến công,

Xưa từng đối địch với cùng An Sinh.

Vùng Y Đa làm tù binh,

Lúc làm quản trại chăm nom bầy cừu.     6470

Trói dây mây, đổi địch thù,

Món tiền chuộc mạng kếch xù vua Troa.

Ngọn lao An Trích phóng ra,

Trúng ngay lồng ngực, chiến xa đổ nhào.

Ngọn gươm An Trích tung mau,

Cắt tai Ân Phổ máu đảo đổ tuôn. (Antiphos)

Nhận ra hình dáng tù binh,

An Sinh dẫn độ, chiến công lẫy lừng.

Như sư tử giữa cánh đồng,

Bầy nai tơ dại dưới nanh vuốt dài.            6480

Dưới đòn dũng mãnh hùm oai,

Rừng dày tung chạy, mồ hôi kinh hoàng.

Dũng tướng chẳng thoát tử thần,

Còn ai đối địch trong hàng Troa quân.

Phi Nam, Hy Bảo tiến lên,(Pisandre, Hippolochos)*

Cả hai cùng nhận tiền vàng  Lộc Sơn (Alexandre, Pâris)

Chối từ trao trả Hạ Lan,

Hai con Mã Chước lên cùng chiến xa. (Antimachos)

Đối đầu trước xe ngựa vua,

Ngựa hồng hoảng sợ đong đưa lật nhào.               6490

Đứng lên run trước ngọn lao,

Gập đầu, quỳ gối lòng nào van lơn:

Ân Thi Mã Chước giàu sang,(Antimachos)

Cha tôi đều sẵn bạc vàng chuộc con.

Biết chúng tôi vẫn sống còn,

Làm tù binh ở chiến thuyền An Kinh.

Cả hai cùng khóc ròng ròng,

Đợi Vua nguôi giận cho thân sống còn,

An Gia càng giận quát lên :

Chúng bay là một lũ con nghịch thần.    6500

Ân Thi Mã Chước hung hăng,

Bác lời Mai Lạc sứ thần chúng ta. (Ménélas)

Bây giờ bây trả cho cha,

Ý đồ chủ chiến bỏ qua lời cầu.

Nói rồi phóng thẳng ngọn lao,

Nhắm vào lồng ngực đổ nhào chiến xa,

Hy Bảo hoảng sợ nhảy qua,

Thanh gươm Vua đã chém lìa đôi tay.

Chiếc đầu gục xuống lăn quay,

Vua hô, binh sĩ phanh thây trận tiền.       6510

Quân Troa hoảng sợ lui chân,

Bụi tung mù mịt trắng đồng máu tuôn.

An Gia Vương dục binh hùng,

Troa quân đầu rụng xác thân chiến trường.

Chiến xa nghiêng ngữa đổ quanh,

Lửa hồng cháy đỏ, rừng xanh gió bừng.

Diều, ưng bay lượn không trung.

Bao nhiêu chinh phụ nỗi lòng xót xa.

Hải Tô co cụm quân nhà,

Qua lăng Y Quốc (Ilios) mới ra đối đầu.    6520

Đám tàn quân chạy theo sau,

Dưới chân sư tử cấu cào vuốt nanh.

Màn đêm buông xuống dần dần,

Trốn đâu chẳng khỏi thoát thân tử thần.

Như bầy bò chậm bước chân,

Vuốt nanh đứt cổ, máu đầm thảm thương.

An Gia Vương đuổi Troa quân,

Đối đầu hay trốn mệnh thân chẳng toàn.

Dưới tay An Trích tiến quân,

Ngọn lao tàn sát chẳng dung địch thù.    6530

Dưới chân thành rộng hào sâu,

Thần  Vương từ đỉnh mây cao non ngàn.

Y Đa nhìn xuống bên thành,

Uy quyền  sấm sét cõi trần trong tay.

Truyền Y Bích đến bên ngai,(Iris)

Thần Cầu Vòng bảy sắc bay sứ truyền :

Hãy đi bảo Hải Tô rằng ,

Hãy  đấu với An Gia  Vương tuyến đầu,

Đả thương hắn với tên, lao,

Đến khi hắn phải lùi vào ngựa xe.             6540

Ta cho chém giết thỏa thuê,

Đánh cho đến tận thuyền bè biển xanh.

Đến khi trời tối đỏ hồng,

Đêm thiêng bao phủ chiến trường mới ngưng.

Nghe lời Y Bích bay nhanh

Gót chân cuộn gió đến thành Ý Long,

Gặp Hải Tô, thái tử Biam,

Đứng sau song mã vững vàng xe cương,

Kề bên truyền lệnh Thần Vương,

Rồi nhanh chân gió Cầu Vòng bay đi.       6550

Hải Tô  đi khắp quân nghi,

Kích lời cận chiến  tức thì An Kinh.

An Gia Vương tiến trước tiên,

Đoàn quân hăng máu trận tiền xung phong.

 

Hát tôi nghe ! Hỡi Nữ Thần

Thi Ca nơi chốn cung đình Thiên Sơn.

Ai người đối địch Đại Vương,

Tướng Troa hay tướng viện binh giúp thành.     

Anh Phi An Thế con dòng, (Iphidamas con Anténor)

Quê hương Thạch Các ruộng đồng phì nhiêu. (Thrace)    6560

Vóc người lực lưỡng lớn cao,

Rời lâu đài bước đi vào chiến chinh.

Mười hai thuyền chiến giáp binh,

Đậu bến Bạch Cốt đến thành Ý Long. (Percote,Ilion)*

Xuất quân giáp mặt Đại Vương,

Ngọn lao An Trích phóng gần hụt trên,

Anh Phi đâm trúng đai vàng,

Ngọn lao toan ấn sâu tràn bên thêm.

Nhưng lao như mũi chì mềm.

Uốn cong trên lớp bạc vàng dây đai.        6570

An Trích giận tuốt gươm dài,

Vờn như sư tử, con mồi kề bên.

Chém tung đứt cổ địch quân,

Anh Phi dũng tướng đầu lăn ngã đùng.

Xót xa vợ trẻ khuê phòng,

Chinh phu vĩnh biệt lên đường xa nhau.

Chẳng còn về nữa thương đau,

Trăm bò sính lễ, nghìn cừu  mà chi.

An Trích toan cướp tử thi,

Mang về vũ khí uy nghi giáp đồng.            6580

Bổng đâu xông đến tướng Công (Coon)

An Thế con trưởng anh hùng vinh danh. (Con Antenor).

Đau thương trước mắt sự tình.

Thấy em bị hạ dưới thanh kiếm thù.

Xông vào phóng thẳng ngọn lao,

Trúng tay An Trích, xuyến xao rùng mình.

Nhà Vua xông chẳng sờn lòng,

Ngọn lao bay thẳng như giông gió tràn,

Tướng Công thương tích ngã lăn,

Rút gươm An Trích chém phăng đứt đầu.              6590

Hai con An Thế còn đâu,

Dưới tay An Trích thương đau số phần.

Về chầu Dìêm Chúa đau thương,

An Gia Vương đứng hiên ngang anh hùng.

Khi đá tảng, gươm lao đồng,

Mặc cho máu chảy ròng ròng vết thương.

Đến khi dòng máu ngừng tuôn,

Mới hay đau đớn thấm dần tay thôi.*

Như phụ nữ đến lúc thời,

Nỗi đau xé ruột chào đời con thơ.            6600

Y Lý Thy, ái nữ Hạ Cơ,(Ilithys, Héra)

Là Thần Đau Đớn xé da thịt người.

Bước lên xe chiến nghỉ ngơi,

An Trích ra lệnh xe lui về thuyền.

Vẫn còn sang sảng lệnh truyền :

Các bạn tướng lĩnh Đạt Liên anh hùng,

Hãy thay tôi giữ chiến trường.

Nói rồi đánh ngựa về thuyền dưỡng thương.

Chiến xa phất phới áo choàng,

Bụi tung trắng bóng quân vương về thuyền.        6610

 

Hải Tô quay lại tiến quân,

Thần Vương phù trợ kiên cường tiến công.

Mang về chiến thắng vinh quang,

Phen này nhất định đánh thuyền An Kinh.

Như thợ săn lệnh vừa ban,

Bầy chó dũng mãnh, nhe hàm trắng răng.

Xông lên sư tử, heo rừng,

Hải Tô tai họa chiến trường An Kinh,

Hàng đầu xông xáo trận tiền,

Thổi cơn bão tố khắp miền biển lam.       6620

Ai người ngã gục đau thương,

Dưới tay Thái tử Vua Biam anh hùng,

An Sài, Âu Tố máu tung, (Asaios, Autonoos)

Ô Thế, Đô Lộc con dòng Ly Tô, (Opotès, Dolops, Clytios)

Ô Phê, An Giã, Ái Mô (Opheltions, Agelaos, Aisymnos)

Ô Lộc, Hy Cốt cơ đồ tang thương. (Oros, Hipponoos)

Và bao quân sĩ An Kinh,

Như Tây Khuê thổi, Nam phong mây ngàn. (Zéphyre, Notos)

Như cơn gió lốc cuốn vần,

Ngàn muôn đợt sóng cuộn tung trắng hào.          6630

Bao đầu rơi rụng máu đào,

Xác thân gục ngã gươm đao anh hùng.

Trước cơn thảm bại lui dần,

Uy Lĩnh bảo với bạn thân lời rằng:

Ty Đê công tử hãy nhanh,

Bên tôi phản kích chận đường Hải Tô.

Chớ nên để hắn tiến vô,

Chiến thuyền đốt cháy, cơ đồ thảm thương.

Đỗ Tướng quân trả lời rằng :

Có tôi ở lại cản ngăn bước đường.            6640

Nhưng Thần Vương Đấng Hội Vân,

Cho quân Troa thế thượng phong chiến trường.

Ngọn lao Đỗ Mạnh xông lên.

Hất tung Thân Bá khỏi thềm chiến xa.(Thymbraios).

Đâm vào ngực trái máu sa,

Uy Lĩnh hạ thủ tướng nhà Mê Long (Mélion).

Như heo rừng húc chó săn,

Quân Troa tàn sát dưới chân hai chàng.

An Kinh nhẹ nhỏm trong lòng,

Chẳng còn trốn tránh gươm thần Hải Tô.               6650

Một xe song mã xông vô,

Hai chàng Bạch Cốt tài cao lẫy lừng. (Percote),

Lào thông binh mã sức hùng,

Trước lao Đỗ Mạnh, đời cùng hồn bay.

An Kinh xông cướp ngựa ngay,

Uy Lĩnh lại giết hai tay tướng hùm.

Hy Mộc, Hy Bắc đường tàn. (Hippodamos, Hypeirochos)

Hai bên chiến trận lại bằng sức nhau.

Thần Vương xuyên thấu mây cao,

Đỉnh Y Đa thấy máu đào trào tuôn.           6660

Ty Đê công tử phóng thương,

An Giác Tô Phổ trúng ngang háng đùi. (Agastropos con Péon)

Phê Ông công tử toan lui,

Ngựa xe lại cách xa nơi cận hầu,

Chân chưa kịp chạy nơi đâu,

Ngọn lao phóng tiếp thương đau lìa đời.

Hải Tô trông thấy bồi hồi,

Đỗ Mạnh, Uy Lĩnh tiến nơi phía mình,

Hét hô tiền đội xông lên ,

Đỗ Mạnh khẽ bảo với cùng bạn thân :     6670

Hải Tô tai họa vô ngần,

Đón đầu mình đấu với cùng hắn ta.

Nói rồi phóng ngọn lao ra,

Hải Tô trúng nón văng xa mũ đồng.

Mũ dày ba lớp bắn tung,

Món quà Phổ bút An Long tặng chàng. (Thần Phébus Appolon)

Hải Tô vội vả nhanh chân,

Chạy vào lẫn với đám đông quân mình,

Ngã nhào tay chống đất mềm,

Mắt mờ như thấy bóng đêm ngang đầu,               6680

Ty Đê công tử đuổi mau,

Ngọn lao  vừa cắm rung theo sức hùng,

Hải Tô hoảng hốt nhanh chân,

Nhảy lên xe chạy thoát thân tử thần,

Cầm lao Đỗ Mạnh hầm hầm :

Chó kia lại nữa một lần thoát thân.

Hôm nay nhờ có mũ thần,

Chạy còn kiếp đảm tiếng dòn ngọn lao.

Hẹn mi gặp gỡ lần sau,

Ta còn chiến đấu, Thần cao hộ trì.            6690

Nói rồi đâm thẳng lao dài,

Phê Ông công tử sóng soài nằm lăn.

Lột mũ áo còn mình trần,

Trao quân chiến phẩm lao đồng giáp gươm.

Bá Lê đứng tự xa trông, (Pâris)

Giương cung nõ dựa trên tầm mộ bia.

Gò Ilios lăng mộ vua,

Ngọn tên bay bổng trời xa rơi vào,

Trúng Đỗ Mạnh dội chiến bào,

Lại rơi xuống đất, cắm vào bàn chân.       6700

Bá Lê hớn hở vui mừng,

Rời ngay chổ nấp tưng bừng huênh hoang :

Đời tàn mi trúng mũi tên,

Trúng ngay hạ bộ chẳng còn sống chi.

Quân Troa mừng hội cơ này,

Chẳng sợ sư tử như bầy dê con.

Đỗ Mạnh lòng dạ chẳng sờn :

Hỡi tên bắn lén chốn chôn mộ phần,

Hãy ra đây đấu với ông,

Ngọn tên mi chỉ gải chân ta nào.              6710

Ra đây mà nếm ngọn lao,

Lao ta chẳng dễ thoát sao tử thần.

Vợ thương khóc xé má hồng,

Con mồ côi đớn đau lòng bơ vơ.

Xác thân máu đẩm bùn nhơ,

Thối tha cho ác điểu chờ xé ăn.

Uy Lĩnh cầm lao hộ gần,

Cho chàng ngồi xuống tay cầm rút tên.

Cơn đau đớn xé thịt xương,

Vội vàng bảo kẻ hầu lên xe về.   6720

Lui về hậu cứ thuyền bè,

Dưỡng thương lau vết máu me chân trần.

Uy Lĩnh còn lại một mình,

Chẳng còn một tướng quân cùng đấu tranh.

Hiên ngang chàng tự nhủ rằng :

Lẽ nào trốn chạy trước quân địch thù.

Sự tình còn lắm thảm sầu,

Mình ta sẽ phải đương đầu gian nan.

Biết bao kẻ nhát bỏ hàng,

Cũng không thoát trận quét càn địch quân.        6730

Chi bằng chiến đấu anh hùng,

Đánh hay bị đánh giáo gươm kẻ thù.

Uy Lĩnh đứng lại đối đầu,

Quân Troa đã đến như hầu vây quanh.

Như heo rừng giữa chó săn,

Hung hăng nanh trắng húc quân địch thù.

Quân Troa nôn nóng xông vào,

Vây quanh Uy Lĩnh ngọn lao anh hùng,

Đới Phi Tử trúng vai trên, (Deiopitès)

Thọ Ôn, An Mộc chết cùng thảm thương.(Thoon Ennomos)         6740

Kế Chi Mạc nhảy xe cương, (Chersidamas)

Ngọn lao trúng bụng lóc lăn bụi hồng.

Sa Cước thương tích tay chân, (Charops)

Sô Cô, anh hắn tiến gần giúp em. (Socos con Hippasos))

Vác lao lực lưỡng hầm hầm,

Đến gần Uy Lĩnh giận căm dằn lời :

Uy Lĩnh Mưu Kế hết thời,

Gặp Hy Bá Cước tàn đời mà thôi.(Hippasos)

Hãy xem đây ngọn lao dài,

Gặp ta mi biết họa tai đến ngày.               6750

Nói rồi phóng ngọn lao bay,

Xuyên qua đến lớp áo dày sườn non.

Quán Trí Tuệ chỡ che chàng,

Không cho lao trúng tim gan anh hùng.

Uy Lĩnh biết nhẹ vết thương,

Lui ra chàng hét với cùng Sô Cô :

Đời mi tàn mạt đáy mồ,

Ta cho mi ngọn lao chờ Âm Cung.

Sô Cô toan trốn quay lưng,

Ngọn lao Uy Lĩnh đã đâm sau mình.         6760

Hắn rơi rụng xuống ngã ầm :

Sô Cô mi đã đời tàn thiên thu,

Mẹ cha vuốt mắt được đâu,

Chim ưng xé xác dập dìu cánh bay.

Còn ta có chết trận này,

Anh hùng tang lễ là ngày vinh quang .

Rút lao ra khỏi khiên tròn,

Uy Lĩnh đau xót máu tuôn bên mình.

Troa quân trông thấy vết thương,

Càng thêm hừng chí tiến lên dần dần.     6770

Uy Lĩnh lùi bước kêu vang,

Gọi bạn bè đến giúp chàng thoát nguy,

Ba lần nghe tiếng gió bay,

Mai Ninh Lạc đã bảo ngay bạn gần :

An Bắc ! Uy Lĩnh nguy nan,

Mãi mê chống chọi Troa quân một mình.

Hãy mau cứu giúp bạn thân.

Nếu không hối tiếc vô cùng quân ta.

Hai chàng hăng hái xông ra,

Thấy Uy Lĩnh giữa vòng đà siết nhanh.    6780

Như con nai đã bị thương,

Giữa đàn sói dữ vuốt nanh đến gần,

Máu tuôn ướt đẫm đến chân,

Sói dữ toan xé thịt ăn giữa rừng,

bỗng đâu thấy chúa sơn lâm,

Sói rừng hoảng sợ lùi dần trốn đi,

An Bắc xông xáo cứu nguy,

Mai Ninh Lạc đã đến ngay đỡ chàng.

Đưa Uy Lĩnh khỏi chiến trường,

Quân hầu đón đỡ xe cương về thuyền.  6790

Đưa chàng cứu chữa vết thương,

An Bắc tiếp tục đánh cùng quân Troa,

Giết Đô Chí hoàng tử Biam (Doryclos)

Đả thương Băng Cốt và cùng Lý Săng. (Pandacos, Lysandre)

Phi Sa, Phi Lạc thương vong, (Pyrasos, Pylartès)

Như con sông chảy xuống đồng phù sa,

Nước tràn trận lũ giông mưa,

Bao thân sên mục, thông già cuốn theo.

Trôi ra biển cả sóng đào,

Dưới lao An Bắc biết bao máu hồng.        6800

Hải Tô phía tả trận tiền,

Chẳng hay biết đến trận tiền Sa Măng (Scamandre)

Bao đầu rơi rụng máu tanh,

Ninh Tô Vương lão đấu tranh chiến trường.

Anh Đô Mai tướng anh hùng (Idoménée)

Các Thần phù hộ lẫy lừng dọc ngang.

An Lộc Sơn bắn phát tên (Alexandre, Pâris),

Tên ba mũi trúng Mã Công anh hùng. (Machaon)

An Kinh lo ngại sự tình,

Anh Đô Mai đã bảo cùng Ninh Tô:             6810

Nhờ Vương lão hãy nhanh vô,

Cứu Mã Công gấp mau cho xe vàng,

Ngựa phi về chốn chiến thuyền.

Một lương y quý gấp trăm mạng người,

Nhổ tên, chữa thuốc trên vai.

Ninh Tô vội vã theo lời, xe nhanh

Nâng Mã Công lên xe mình,

Dục cương cho ngựa băng băng hướng thuyền.

Kê Long nhìn phía trận tiền,(Kebrion)

Quân Troa bỏ trốn bảo cùng Hải Tô:         6820

Hãy nhìn phía trái trận đồ,

Quân ta hoảng sợ lui vô tránh mình,

Do An Bắc Thế La Môn,

Tôi nhìn ra hắn với cùng khiên to,

Chúng ta hãy đổ quân vô,

Cản ngăn An Bắc trận đồ tang thương.

Nói rồi đánh ngựa dục cương,

Đưa quân vào chốn chiến trường hiểm nguy,

Xác thân gục ngã máu đầy,

Bắn tung mặt đất vòng quay bánh tròn. 6830

Hải Tô xông giữa trận tiền,

Nhưng tránh An Bắc phân tranh đối đầu.

Thần Vương gây ngại ngùng nhau,

Khiến cho An Bắc lùi mau chiến trường.

Như sư tử bỏ trại chuồng,

Khi đàn chó dữ,  dân làng cản ngăn.

Bỏ mùi thịt béo máu hồng,

Chẳng mang mồi lại gầm gừ bỏ đi.

An Bắc lo lắng tiếc vì,

Lòng chàng lo ngại lâm nguy chiến thuyền.           6840

Như con lừa giữa cánh đồng,

Trẻ con gõ nhịp vào thanh gỗ tròn,

Con lừa chẳng sợ gì hơn,

Cứng đầu chẳng chạy, chẳng buồn thong dong.

Trước An Bắc Thế La Môn,

Quân Troa cầm kiêm gõ khiên vang lừng.

An Bắc quay lại đánh đâm,

Quân Troa lại tránh lùi dần xa xa,

An Bắc thong thả bước qua,

Quân  An Kinh tiến quân ra gần kề.          6850

Âu Chi Phi Lộc tiến về, (Eurypylos)

Đến bên An Bắc bốn bề vung lao,

Đánh An Phi té lộn nhào, (Apisaon)

Đứt đầu gối, đến lột mau khiên đồng.

An Lộc Sơn thấy giương cung,(Alexandre, Pâris)

Trúng ngay đùi gãy mũi tên gỗ tròn.

Âu Chi Phi Lộc lùi dần,

Thúc quân tiến bước đánh cùng Troa quân :

Chớ nên lùi bước ươn hèn,

Cùng bên An Băc vẻ vang anh hùng.        6860

An Kinh nhanh bước che khiên,

Âu Chi Phi Lộc về liền trại dinh.

Ninh Tô Vương lão xe vàng,

Mang Mã Công đến về thuyền chữa thương,

An Sinh từ đứng xa trông (Achille)

Cột buồm quan sát mênh mông chiến trường,

Thấy bao thảm bại đau buồn,

Gọi Ban Tuấn đến, tỏ tường chẳng yên.

Mà lòng hối tiếc căn nguyên,

Gây bao nhiêu nỗi thảm thương quân tình.          6870

Mai Tuấn công tử mới rằng (Patrocle  con Ménoetios)

Việc gì bạn gọi, An Sinh cần gì ?

An Sinh Phi Túc sầu bi :

Bạn thân ta hỡi giờ đây là ngày,

An Kinh cầu khẩn gối quỳ,

Tình hình chiến địa lâm nguy khốn cùng,

Ban Tuấn, ái tử Thần Vương,

Sang Ninh Tô để hỏi thăm sự tình.

Ninh Tô đánh ngựa về dinh,

Hỏi người thương tích chiến trường là ai ?            6880

Ta thấy người ấy lưng vai,

Phải Mã Công trúng thương nơi trận tiền,

Ta không thấy được hình dung,

Tình hình khẩn cấp là trong phút này.

Lời hờn giận dỗi chẳng hay,

Ta không có thể khoanh tay ngồi nhìn.

Ban Tuấn vâng lệnh bạn hiền,

Đến nơi Vương lão bên thềm trại dinh.

Âu Đông hầu cận tháo cương,(Eurymédon)

Hai người ướt đẫm bụi đường mồ hôi.    6890

Hạnh Mai tóc bính bờ vai, (Hécamède),

Vội pha nước uống rót mời tướng quân.

Nàng con Đạt Sĩ trâm anh, (Arsinoos)

Kinh đô Thệ Độ, An Sinh hạ thành. (Ténédos)

Thưởng ban cho Chiến Xa Công,

Lời bàn cơ mật chiến trường chẳng sai.

Dựng bàn gỗ chạm chân dài,

Đặt lên một giỏ trái cây chạm đồng.

Nước thơm mật ngọt, thời trân,

Bình bốn quai chạm bạc vàng thanh tao*.             6900

Mỗi quai hình hai bồ câu,

Rượu thơm Ban Mễ cất từ tay  tiên (Pramné)

Cắt viên bánh sữa dê thơm.

Rắc lên một lớp bột mền  trắng tinh ,

Rót mời Vương Lão, Mã Công.

Cùng nhau giải khác hàn huyên luận bàn.

Ban Tuấn vừa tới bên dinh,

Ninh Tô Vương lão vội vàng cầm tay.

Mời vào ghế bạc riêng bày,

Ban Tuấn nôn nóng lời ngay chối từ:        6910.

Rằng thưa chẳng dám ở lâu,

Hỏi  thăm Vương lão  ai nào  bị thương. ?

Giờ đây nhìn thấy  Y  vương

Tôi xin về gấp thưa cùng An Sinh,

Bấy lâu uất ức trong lòng,

Chỉ vì  đối xử bất công nên  đành,

Ninh Tô Vương Lão lời rằng:

An Sinh ấm ức  giận hờn mãi sao?

Đau thương thảm bại biết bao,

Bao nhiêu dũng tướng, anh hào bị thương.         6920

Đỗ Mạnh tên đã trúng chân,

Uy Lĩnh thương tích bên sườn mũi lao,

An Gia Vương vai vết đau,

Âu Chi Phi Lộc tên nao trúng đùi.

Mã Công tên trúng bờ vai,

Mới vừa từ chiến trận tôi mang về.

An Sinh sao nỡ hững hờ,

Chẳng lo âu, đứng bên bờ dững dưng.

Đợi địch tiến đánh đốt thuyền,

Sức tôi giờ đã lụn tàn, nếu không             6930

Nếu  tôi còn tuổi thanh xuân,

Kiên cường như buổi anh hùng Âu Liên, (Eliens)

Chúng cướp bầy bò trại chăn,

Tôi hạ Ý Tỵ con dòng Hy Cơ. (Itrymonès, Hyperochos)

Một vùng Âu Lịch cơ đồ (Elide)

Tôi đã đem đại quân vô trả thù,

Ngựa lao tôi phóng hàng đầu,

Trúng ngay tướng địch, quân mau tan hàng.

Tôi đà thâu được vô vàn,

Năm mươi bò mộng , dê hàng trăm con.              6940

Bao lừa, ngựa mẹ, ngựa non,

Chúng tôi lùa hết về thành Phi Lô.

Nê Lê mừng thết tiệc to (Nélé cha Nestor)

Con trai thắng trận, cơ đồ vẻ vang.

Loa truyền, mở hội rạng đông,

Chia phần chiến thắng,  dân đồng vinh quang,

Tướng quân tuổi trẻ lập công,

Từ nay xóa hết nợ nần Âu Biên (Épéens)*

Đền bù năm tháng đảo điên,

Kẻ thù ngược đãi, siết rên bạo tàn.          6950

Sưu cao thuế nặng cơ hàn,

Bao nhiêu dũng sĩ nhất thành tiêu vong.

Mười hai hoàng tử Phi Liên,

Mình tôi sống sót nối dòng vương gia,

Âu Biên kiêu ngạo lọc lừa,

Quân binh giáp ức hiếp vua bạo tàn.

Mỗi năm cống nộp  định phần,

Một bầy bò với ba trăm dê cừu.

Bốn ngựa giống thắng giải đua,

Chiến xa vật báo,  chẳng vừa lòng tham.              6960

Vua Nê Lê tức giận căm,

Chia phân tài sản công bằng cho dân,

Hịch truyền tế lễ xuất chinh,

Quân Mâu Long vẫn xem khinh, xem thường.(Moulios)

Vây Thy Bích thành biên cương (Thryoessa)

Quán Trí Tuệ giúp can trường Phi Lô.

Toàn dân hăng hái vô bờ,

Riêng tôi,  cha chẳng muốn cho đối đầu,

Cất ngựa xe, dấu chiến bào,

Rằng tôi tuổi nhỏ, biết sao chiến trường.              6970

Quán Trí Thần Nữ dẫn đường,

Tôi đi đến tận trận tiền chân không.

Đến Minh Thủy dòng sông xanh(Minyos),

Đổ vào biển cả bên vùng An Nê (Arènè)

Đợi bình minh sáng sơn khê,

Các dân bộ tộc cùng về hội binh.

Đỉnh An Phê tế các thần (Alphée)

Tế Dớt bò mộng, Hải Long bò vàng.

Quán Trí Mắt Cú bê non,

Binh đoàn dưỡng sức bên dòng sông xanh.         6980

Âu Biên nôn nóng phá thành (Épéens),

Bình minh bừng sáng ra quân trận tiền.

Mâu Long tướng địch xông lên (Moulios rễ Augias))

Phò mã Âu Giác tính tình huênh hoang.

Cưới Âu Nương gái dầu lòng,(Augamède)

Xem khinh địch thủ xưng danh anh hùng.

Tôi phóng một ngọn lao đồng,

Ngã ngay xuống đất, lăn đùng bụi bay.

Tôi lên cướp chiến xa ngay,

Hàng đầu xông xáo,  đông tây chiến trường.      6990

Âu Biên chạy trốn hoảng hồn,

Khi nhìn Nguyên soái, quân tình thảm thương.

Tôi hăng hừng chí xông lên,

Như cơn giông bão tối đen bầu trời.

Mang về chiến thắng mình tôi,

Năm mươi xa chiến, trăm người giáp binh.

Mỗi xe hai kẻ địch quân,

Dưới lao tôi ngã gục trong bụi đường.

Mâu Long huynh đệ tang thương,*

Con Ất Tô lắm uy quyền tiêu vong.(Actor)            7000

Rung trời, chuyển đất quyền hành,

Cũng không cứu được con trong chiến trường.

Dớt cho Phi Liên vinh quang,(Pyliens)

Toàn dân chiến thắng khắp đồng nương sâu.

Ngựa xe chỡ nặng biết bao,

Chiến công : thóc lúa, hoa màu, giáp binh.

Rời Bầu Long về kinh thành (Bourprasion)

Dớt cho vinh hiển dân lành Phi Lô.

Chiến công danh dự Ninh Tô.

Nay tôi già vẫn chăm lo góp phần.          7010

An Sinh hờn giận một mình,

Rồi đây sẽ khóc sự tình đơn côi.

Khi An Kinh thảm bại rồi,

Có còn hối tiếc chẳng khôi phục gì ?

Thuở từ Phi Thi biệt ly, (Phthie)

Mai Tuấn cha cháu, chân đi dặn dò.

Theo Vua vì nghĩa dưới cờ,

Tôi và Uy Lĩnh đợi chờ lắng nghe,

Chúng tôi đến cung Pê Lê,

Anh hùng Mai Tuấn cận kề với con.         7020

Ban Tuấn đứng cùng An Sinh,

Pê Lê tế lễ cầu thần trong sân.

Đùi bò cúng tế Thần Vương,

An Sinh kinh ngạc lại gần nắm tay,

Mời ngồi vào ghế khán đài,

Tiệc trần danh dự đãi bôi chân tình.

Tôi đà  kể rõ  nguyên nhân,

Hai bạn tỏ chí nhiệt tình tham gia.

Đồng tình cả hai người cha,

Tướng quân Mai Tuấn thiết tha dặn lời.:               7030

Ra đi chinh chiến con ơi,

An Sinh tuy lớn cao người hơn con,

Nhưng mà còn nhỏ tuổi hơn,

Dù sức cao trội, con nên luận bàn,

Điều hay lẽ phải thật lòng.

An Sinh thấy phải sẽ cùng lắng tai.

Ấy lời sáng suốt của người,

Chớ quên đi hết những lời thân thương.

Con ơi, nói với An Sinh,

Lời con thắm thiết bảo khuyên chân tình.             7040

Lời ngay sẽ thấu con tim,

Đổi  thay ý tưởng gì  hơn bạn bè.

Những lời phải ắt lắng nghe,

Nếu An Sinh sợ lỗi  thề Thần Vương,

Hay vì lời mẹ Nữ Thần.

Thì con hãy bảo xin chàng xuất chinh.

Binh Nguyệt Mi Đông ra quân (Myrrmidons)

Sẽ làm hứng chí bội phần An Kinh.

Con mượn vũ khí bạn hiền,

Quân Troa sẽ sợ tưởng lầm An Sinh.       7050

Sẽ càng sợ hãi lui binh.

Chẳng công nhọc sức giúp quân thủ thành.

Rời xa chiến lũy chiến thuyền.

Cho An  kinh được bớp phần nguy nan.

Ban Tuấn hừng chí trong lòng,

Nghe lời chạy gấp báo cùng An Sinh,

Ngang thuyền Uy Lĩnh đóng quân,

Cùng nơi hội họp trung quân tế thần.

Thấy Âu Chi đã bị thương (Eurypylos),

Đôi chân cà nhắc, mũi tên ngang đùi.       7060

Mồ hôi ướt đẫm đầu vai,

Tinh thần tỉnh táo, chân đi nhọc nhằn,

Ban Tuấn thương xót hỏi nhanh :

Chó Troa nào đã bắn anh thế nào ?

Quân ta chống, sức còn bao ?

Hải Tô tai họa thế nào, tướng quân ?

Âu Chi bình tỉnh lời rằng :

Ban Tuấn bạn hỡi, sự tình lầm than,

Bao anh hùng nhất An Kinh,

Đã thương tích bởi lao tên quân thù.      7070

Sức còn hung hãn đánh mau,

Hãy mang tôi chữa vết đau tên này,

Đưa tôi về chiến thuyền ngay,

Nhổ tên lau máu, bạn này, giúp tôi.

An Sinh có thuốc diệu kỳ,

Sĩ Tông truyền dạy thuốc thầy Mã nhân,

An Sinh có trao tặng anh,

Có lương y đã bị thương chiến trường.

Mã Công bị tên, lui chân,

Còn cần lương tướng tốt lành chữa thương.       7080

Bồ Đa Linh ở chiến trường, (Podalyre)

Còn đang đối phó địch tràn tiến công.

Ban Tuấn nhanh nhẩu bảo rằng :

Sự tình nguy cấp hay chăng thế nào,

Bây giờ tôi phải làm sao ?

An Sinh cần gặp gấp mau sự tình,

Ninh Tô Vương lão nhắn bàn,

Nhưng tôi không bỏ bạn mình bị thương .

Nói rồi dìu bạn vào dinh,

Kẻ hầu phụ giúp trải lên da mềm.             7090

Ban Tuấn tay đỡ bạn nằm,

Dùng dao cắt mũi, nhổ tên trên đùi,

Dùng nước nóng ấm lau chùi,

Mở bao lấy thuốc bên người rắc lên,

Hết cơn đau đớn thuốc tiên.

Vết thương khô máu, lành liền thịt xương.           7096

(Còn tiếp kỳ tới ) :

Thi Ca khúc XII:  Cuộc chiến bên chiến hào (câu 7097 đến 7460)

Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh  * Tiến sĩ Khoa Học Giáo Dục Viện Đại Học Paris V Sorbonne

dịch thơ năm 2006-2011, nhuận sắc năm  2017.

CHÚ THÍCH :

6388: Dấu hiệu chiến tranh. Các nhà văn thời cổ đại bàn về dấu hiệu chiến tranh của Thần Nữ Bất Hòa: có người cho rằng là ngọn lao, thanh gươm, chớp sáng.  Virgile cho rằng đó là ngọn phất trần.

6393. Theo Homère : Atride Agamemnon làm vua Mycènes. Diomède là vua Argos, nhưng có khi lại lẫn lộn. Agamemnon là vua cả Aros, dân Argiens (do chữ Argos) là dân Hy Lạp, phải chăng Diomède làm vua dưới quyền trực tiếp của Agamemnon. Thủ lĩnh của mỗi vùng đều gọi là vua, Agamemnon vua mạnh nhất, vua các vùng đều thần phục.

6396. Kinyrès, vua đảo Chypre nổi tiếng kỹ nghệ kim loại.

6485 Hai tướng này lúc đầu theo Anténor, có ý theo lời sứ giả trả Hélène lại cho Ménélas, nhưng sau đó Pâris mua chuộc bằng tiền vàng, nên cùng cha Antimachos, bênh vực cho Pâris.

6564 Percote bến tàu ở Hellespont giữa Abydos và Lampsaque.

6660. Tiếng Hy Lạp chơi chữ có nhiều tiếng  khi tả sự đau đớn : đau khi sinh đẻ, đau khi bị lao đâm, đau khi thất tình, đau khi ngườ thân qua đời, đau đớn khi dương vật vào âm hộ.. họ rất phong phú trong ngôn ngữ diễn tả sự đau đớn.

6900. Chiếc bình hai quai chạm chim bồ câu bằng vàng, các nhà khảo cổ tìm thấy tại Mycènes, có chưng bày tại viện bảo tàng Hy Lạp  ( tôi đã nhìn thấy chiếc bình này ).

6948. Épìéens do tên Épéos tên người cha sáng lập ra triều đại Élis.

6959. Bốn ngựa đua phải nộp cống cho Épéens là ngựa từng đoạt giải đua thể thao Olympiques.

6999. Hai Moulios tên Cteatos và Erytos con Actor, em vua Augias theo một truyền thuyết mà Homère không nói đến là anh em sinh đôi.

7076. Chiron người ngựa đầu người, từng cứu Pélée khỏi bị các Centaures khác giết.



Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.