Hôm nay,  

Khói thuốc năm xưa

05/02/201700:01:00(Xem: 7319)
Khói thuốc năm xưa
 
Sean Bảo

blank 
Truyền thuyết của người da đỏ Huron ở Bắc Mỹ ngày xưa kể rằng: Khi mặt đất này trống trải hoang vu và mọi người đều đói khát thì Thần linh đã gởi một phụ nữ bay xuống trần gian để cứu loài người. Khi bà ấy lượn quanh quả đất, nơi nào tay phải của bà chạm đất, nơi ấy mọc lên khoai tây, nơi tay trái bà ấy chạm đất, thì bắp mọc lên. Khi cả trái đất xanh tươi, sum sê và màu mỡ, bà ngồi xuống nghỉ ngơi, và nơi bà ấy ngồi mọc lên cây thuốc lá.  
Theo các nhà khảo cổ thì thuốc lá có từ 6,000 năm trước CN ở Châu Mỹ. Chúng có cùng họ với cây khoai tây, cây ớt, cây cà...Vào đầu thế kỷ 1 trước CN thì thổ dân châu Mỹ đã biết dùng thuốc lá như là thuốc men chửa trị cầm máu vết thương, làm thuốc giảm đau...Hút khói thuốc lá trong các lễ hội tế thần, nhờ khói thuốc giao cảm với đất trời và bày tỏ tình thân hiếu hòa với các bộ lạc. Một chậu đất nung trước thế kỷ 11 của người Maya cổ xưa đã có chạm hình một điếu thuốc lá vấn bằng sợi dây. Khi Kha Luân Bố dong buồm lạc đến Châu Mỹ mà ngỡ rằng đã đến Ấn độ năm 1492, thì những người thổ dân đã mời những điếu thuốc lá khô với người da trắng đầu tiên. Robert Pane người tháp tùng Kha Luân Bố đã ghi chép lại những dòng đầu tiên về cây thuốc lá và người bản xứ. 
Nhanh chóng sau đó, thuốc lá theo những người thủy thủ trở về Châu Âu, thuốc lá được quý như vàng, là món hàng "thời thượng" ngày càng phổ biến. Đến năm 1607, khi những người Anh tiên phương đến nước Mỹ, lập nên thuộc địa đầu tiên Jametown ở Virginia, thì thuốc lá là cây trồng đầu tiên mà hạt giống nhập lậu từ Tây Ban Nha, đã giúp những người di dân mới đến vùng đất hoang hóa này có được thu nhập và tồn tại sau này. Chính những dải đất ven sông pha cát màu mở đã nhanh chóng phủ đầy màu xanh cây thuốc lá. Và công lao ấy nhờ John Rolfe, người chồng sau này của nàng công nương thổ dân da đỏ Pocahontas. Cũng nhờ cây thuốc lá chịu đựng được khí hậu và thổ nhưỡng mà vụ mùa đầu tiên đã cứu sống những người định cư. Thuốc lá gieo trồng trên mảnh đất này lại có vị ôn hòa, dịu nhẹ, làm người dân Châu Âu ưa chuộng. Thuốc lá được vận chuyển về Châu Âu và 20 người nô lệ da đen ở Châu Phi đầu tiên được chở tới bán ở Virginia. Đến năm 1619 thì một chuyến tàu chở các người vợ của các người đàn ông đã đến định cư trước đó, giá cước vận chuyển cho mỗi cô vợ được tính bằng 120 lbs thuốc lá. Năm sau nữa thì Anh quốc nhập đến 20 tấn thuốc lá từ Virginia. Lá thuốc lá được xem là "vàng nâu" dùng làm tiền tệ trao đổi hàng hóa, đóng thuế, trả nợ và ngay cả giấy phép hôn nhân. Nhu cầu của thuốc lá càng cao từ Châu Âu đã kích thích nguồn buôn nô lệ da đen chở đến Châu Mỹ. Trồng trọt cây thuốc lá đã dẫn đến gia tăng giá cả đất đai và luật lệ ở các thuộc địa mới. Cùng với kỹ nghệ trồng bông vải sau này, thì chính cây thuốc lá là cội nguồn cho những nỗi khổ triền miên của người nô lệ da đen, dẫn đến hệ lụy các cuộc chiến tranh của người Châu Âu với dân bản xứ da đỏ, của lịch sử nước Mỹ với cuộc nội chiến Bắc Nam kinh hoàng sau này. Cây thuốc lá cũng là nguồn tài trợ giúp những cư dân thuộc địa đầu tiên làm cuộc cách mạng chống lại mẫu quốc Anh để hình thành nên nước Mỹ ngày nay. George Washington vị tổng thống đầu tiên của nước Mỹ cũng là người có nông trại thuốc lá rộng lớn ở Mount Vernon. Thuốc lá trở thành nguồn lợi thu thuế chính 1/3 cho ngân sách nước Mỹ.
Vào thế kỷ 17 thì những người thổ dân và thuộc địa chỉ dùng ống vố, đôi khi hút trong cùi bắp khô hoặc cuốn lại bằng lá như xì-gà. Họ ngậm, nhai lá thuốc như người Việt nhai trầu. Ngậm lá thuốc thì phải nhổ bã và nước bọt, dơ ghê lắm. Một ghi chép của sử gia ngày đó kể lại rằng: 
Những người lính của 2 miền tìm cảm giác an ủi trong những viên lá thuốc vấn và tiếp tục ngậm trong miệng về theo sau cuộc chiến. Trên cánh đồng họ cày bừa và tha hồ nhổ bọt mà không sợ làm phiền ai. Ở trong nhà và nơi hành chánh công cộng họ được nhổ vào những chậu bằng đồng để sẳn góc phòng. Ở nhà thờ những băng ghế cũng có những ống nhổ nhỏ. Khi tổng thống Andrew Johnson kế vị Abraham Lincoln vào Nhà Trắng, trong buổi lễ hòa giải và miễn tội cho gần 20 ngàn sĩ quan Confederate binh lính miền Nam thì sàn nhà các khánh phòng của Nhà Trắng ngập đầy vết bọt nhổ từ thuốc lá ngậm...
  
Phải đợi đến khi James Bonsack chế ra máy vấn thuốc lá năm 1881 thì kỷ nguyên thuốc điếu, bỏ trong hộp giấy mới bùng nổ và phát triển. Đó là thời kỳ hoàng kim cho các doanh nghiệp sừng sỏ như Philip Morris đã mua lại các hãng nhỏ ở Richmond, Virginia và bắt đầu tạo ra thương hiệu riêng cho mình sau này như Marlboro, Virginia Slims, Benson & Hedges, Merit, Parliament...Công ty R. J. Reynolds thành lập 1875 ở Virginia đã làm ra các nhãn hiệu phổ biến như Lucky Strike, Newport, Camel, Doral, Kent và Pall Mall...Khi thế chiến I và II nổ ra, thuốc lá được cung cấp cho các người lính miễn phí, trong khi ở hậu phương, những người phụ nữ vào làm hãng xưởng, thì điếu thuốc lá đầu tiên khuây khỏa nỗi nhớ mong khi chồng con xa nhà. Chiến tranh làm thúc đẩy kỹ nghệ sản xuất thuốc lá đến 300 tỉ đô vào năm 1944. 75% số thuốc lá sản xuất được dùng trong quân đội.  
Kể từ đó các quảng cáo thuốc lá theo các tờ báo, các bảng billboards, các màn hình nhỏ ảnh hưởng sâu rộng đến khắp nơi. Không riêng gì các chính khách hút thuốc vì căng thẳng việc nước, mà các giai nhân tài tử màn ảnh cũng hút. Một Audrey Hepburn cổ điển hay Angelina Jolie đẹp kiêu sa cũng cần điếu thuốc, một Clint Eastwood cao-bồi lầm lì đến một Leonardo DiCaprio trẻ trung cũng phì phèo khói thuốc. Thuốc lá trở nên một ngôn ngữ trợ giúp cho điện ảnh thể hiện nội tâm nhân vật. Hình ảnh một phụ nữ xinh đẹp gợi cảm dáng hình thon thon luôn nằm trên các bao bì và quảng cáo thuốc lá.  
Tác hại to lớn của thuốc lá là điều hiển nhiên và sớm bị ngăn ngừa khi năm 1965 Quốc hội đã áp dụng Dự luật quảng cáo thuốc lá, buộc các sản phẩm phải có dòng chữ "Thuốc lá có hại cho sức khỏe". Hạn chế các quảng cáo khắp nơi. Thế nhưng các nhà sản xuất thuốc lá đã khôn khéo đánh lừa người tiêu thụ bằng các sản phẩm mới được xem là "low tar" chứa ít nhựa nicotin. Gọi là Mild, Light, Ultra Light nhưng thực sự thì không phải thế. Người dùng càng ngày càng nghiện và càng hút nhiều. Dần dà các quảng cáo thuốc lá bị cấm khắp nơi, trên TV, báo chí truyền thông. Cấm hút thuốc ở nơi công sở, nhà hàng, quán ăn và nơi công cộng. Cấm hút thuốc ở máy bay, xe, tàu...Người hút thuốc lá càng ngày được xem như kẻ outlaw, bị công chúng né tránh. Điều hạn chế thuốc lá hiệu quả nhất chính là thuế đánh thật cao lên thuốc lá. Một bao thuốc lá mua lẻ ở New York hiện nay với giá 14 đô hay 21 đô ở Melbourne, Úc Châu hẳn làm chùn tay người nghiện. Các công ty thuốc lá đành tìm thị trường ở các nước Châu Phi, Châu Á. 
Nhắc đến Châu Á lại nhớ những điếu thuốc rê, thuốc lá vấn như con sâu kèn. Hồi ấy về quê hỏi đường xá. Các cụ già miệng ngậm điếu thuốc cứ vung tay bảo: đi hết chừng điếu thuốc là tới...Điếu thuốc hút được làm đơn vị đo lường thời gian. Khoảng thời gian nghèo đói ảm đạm. Lại nhớ điếu thuốc lá Cẩm Lệ. Ngày ấy mẹ hay nhờ đi mua gói thuốc lá nâu sậm nhỏ như cái bánh nậm, quấn trong miếng lá chuối tươi, kèm theo 1 dung giấy quyến. Ở Ngã giữa phố Phan Bội Châu, nhìn những người thợ mua lá thuốc về từ Cẩm Lệ (Hòa Vang), sau khi ủ họ trải lên sàn nhà, tước thân cây và gân lá nấu keo thành cao đặt sánh rồi rãy lên lá thuốc, lá được quấn lại thành từng bánh nhỏ to bằng ngón chân cái, cuộn thành bánh thuốc dài, sau đó bỏ vào máy xắt nhỏ ra từng sợi thuốc mỏng. Mẹ quấn những điếu sâu kèn, ngồi bên bếp lò than, mùa đông rét mướt nhớ chồng lao cải trên núi xa. Tôi thì rít lấy những điếu thuốc mang mộng ảo khói sương của thuở biết yêu người. Cha trở về quê nhà mang theo ống điếu thuốc Lào. Cả nhà mịt mù khói thuốc. Thuốc lá làm cho mùa đông bớt giá buốt, cho bụng bớt đói, đầu óc bớt lo âu về tương lai vô định. Những quầy bán thuốc lá nhỏ mọc lên khắp phố, bán lẻ từng điếu thuốc. Đằng sau quầy là những cô gái có khi bán cả thân xác về đêm. Bên cạnh là những quầy bơm hộp quẹt gaz của những người thất nghiệp, trắng tay sau cuộc bể dâu. Cuộc đời tự dưng có những cái nghề chưa nơi nào trên thế giới có được.   
Thế rồi rồi ai cũng bỏ thuốc. Chàng cao-bồi trên màn bạc chỉ ngậm cọng cỏ, gã gangster gồ ghề chỉ ngậm cây tăm xỉa răng, nàng con gái thất tình chỉ ngậm ngọn tóc, nhà thơ chỉ ngậm cây bút chì khi suy tưởng. Những vần thơ không còn nỗi "nhớ nhà châm điếu thuốc, khói huyền bay lên cây". Khúc hát Smoke Gets In Your Eyes: When your heart's on fire. You must realize. Smoke Gets In Your Eyes. Khi trái tim cháy ngọn lửa tình, biết là khói thuốc cay trong mắt. Thì sẽ được hát mà chẳng có khói thuốc nào trên môi, trên mắt. Chẳng có khói thuốc nào cho những cuộc tình của thế kỷ này. Dù khi nước mắt rơi người ta vẫn đổ thừa cho khói thuốc. Cũng như khi hoài niệm về những điếu thuốc lá, từ thuở lập quốc của nước Mỹ đến ngày thơ ấu ở quê nhà. Mắt cứ cay và lòng cứ ngây ngây.  
Sean Bảo
(Kính mời độc giả đọc Chuyện Xưa Kể Lại phát hành tại Amazon)



Ý kiến bạn đọc
06/02/201720:21:34
Khách
Nghiện thuốc lá không làm tan cửa nát nhà và hư xã hội bằng nghiện sòng bạc. Nó cũng nhẹ đô hơn nghiện mỹ phẩm, nghiện shopping, nghiện giày dép, nghiện nâng mũi sửa cằm và...silicon. Thuốc lá đã hết thời vàng son để các thứ...lẩm cẩm khác lên ngôi. Nhưng lên gì thì lên, tui chỉ thấy mấy thứ lẩm cẩm chẳng ai làm thơ, viết nhạc. Và chẳng ai thấy Smoke get in your eyes nó đẹp não nùng và lãng tử như thế nào....Tặng câu cuối này cho những người còn...ru đời vào quên lãng. Cám ơn tác giả!
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.