Hôm nay,  

Ảo Tưởng Của Khối BRICS

26/10/201600:00:00(Xem: 7217)

...năm hòn gạch thiếu xi măng...

Tuần qua, Thượng đỉnh thứ tám của khối BRICS đã hoàn tất tại Ấn Độ mà không có đột phá. Năm quốc gia với nền kinh tế đang phát triển là Brazil, Liên bang Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi, với tên gọi được viết tắt từ quốc hiệu là BRICS, có tham vọng tăng cường hợp tác và lập ra một trật tự kinh tế mới. Nhưng thực tế kinh tế và an ninh lại gây nhiều trở ngại bất ngờ. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu tại sao…

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa. Thưa ông, sau hai ngày làm việc tại khu nghỉ mát thuộc tỉnh Goa của Ấn Độ, hội nghị của lãnh đạo năm nước có tên gọi tắt là BRICS đã kết thúc hôm 16 vừa qua mà không có gì nổi bật trong bản thông cáo chung. Có một thời mà năm quốc gia này từng hy vọng là đầu máy kinh tế của thế giới và là cường quốc có ảnh hưởng với các nền kinh tế đang lên. Thế thì vì sao thượng đỉnh lần thứ tám vừa qua của nhóm BRICS lại gây thất vọng?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ngày xưa, tôi chơi chữ theo Pháp ngữ mà gọi khối kinh tế này là “bric-à-brac” là đồ tầm tầm. Tuần qua có người cũng chơi chữ theo Anh ngữ, với từ brics là gạch - mà thiếu xi măng! Năm quốc gia này muốn thành lập một khối kinh tế liên kết mà thật ra thiếu chất keo sơn hợp tác. Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu tại sao việc năm nước có dân số bằng phân nửa của địa cầu, với sản lượng tổng cộng chừng 17 ngàn tỷ đô la, bằng 30% sản lượng toàn cầu, lại khó trở thành một khối.

Nguyên Lam: Trước hết, xin đề nghị ông trình bày lại bối cảnh của sự hình thành nhóm quốc gia có tên tắt là BRICS và giải thích vì sao ông không đánh giá cao khả năng hợp tác của họ.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là trong kinh tế học, ta cũng có truyện thần tiên! Số là năm 2001, một kinh tế gia gốc Anh của một tổ hợp đầu tư Mỹ là ông Jim ONeill của tập đoàn Goldman Sachs đề xướng ý tưởng ngộ nghĩnh có lẽ với dụng ý quảng cáo cho việc đầu tư của họ. Ý tưởng đó là sự xuất hiện của các nền kinh tế "đang lên" hay đang tiến lên trình độ công nghiệp hóa. Ông nêu tên bốn nền kinh tế lớn của loại này là Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc, viết tắt theo Anh ngữ là B.R.I.C. Sau đó, bốn nước tưởng thật, kể từ 2009 thì hàng năm hội họp với ước mơ lập ra một trật tự kinh tế mới cho thế giới, rồi qua năm sau mời thêm một xứ khác tại lục địa Phi Châu là Cộng hoà Nam Phi, từ năm 2011 đó mới có tên chính thức là B.R.I.C.S.

- Sáng kiến quảng cáo ấy ngộ nghĩnh vì gây ấn tượng các nền kinh tế đang lên có thể tách khỏi khối công nghiệp hóa để thành đầu máy kinh tế mới cho thế giới và là năm trung tâm thu hút đầu tư. Truyện thần tiên là 10 năm sau khi phát minh ra chữ BRICS, các nền kinh tế ấy vẫn lệ thuộc vào đà tăng trưởng của khối Âu-Mỹ-Nhật và đều bị suy trầm, thậm chí mấp mé khủng hoảng, như trường hợp Nga, Brazil hay Nam Phi từ vài năm nay. Nhưng khi có kẻ thổi bong bóng thì các quốc gia này chạy theo với ảo tưởng sẽ cạnh tranh rồi thay thế trật tự kinh tế do Hoa Kỳ và các nước Âu Châu lập ra từ sau Thế chiến II.

Nguyên Lam: Nhưng thưa ông, sau vụ khủng hoảng tài chính tại Hoa Kỳ vào năm 2008 rồi khó khăn triền miên của khối Euro kể từ năm 2010, thì năm 2014, khối BRICS đã lập ra Ngân hàng Phát triển BRICS và một Quỹ cấp cứu các nền kinh tế bị khủng hoảng nhằm thay thế dần vai trò của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Ngày nay thì các dự án đó tiến tới đâu và liệu rằng ước mơ thay thế kiến trúc tài chính và trật tự kinh tế của họ có thành không mà có người mỉa mai như ông vừa nhắc là mấy cục gạch thiếu xi măng?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Khi người ta phát minh ra chữ này thì quả là các nền kinh tế đó đang tăng trưởng mạnh, dẫn đầu là Trung Quốc và Ấn Độ, và họ thấy là chưa được thế giới nể nang trong khi các định chế tài chính nói trên vẫn do Tây phương chi phối nên họ muốn là giải pháp thay thế. Nhưng khi thế giới bị Tổng suy trầm vào các năm 2008-2009 thì cả năm quốc gia đó đều gặp khó khăn, nhất là Nga và Brazil, Nam Phi và việc khối này đề nghị tung tiền cấp cứu Âu Châu vào thời đó chỉ là chuyện hão. Kết luận đầu tiên là đà tăng trưởng cao chưa là cơ sở của tích lũy và thứ hai, năm nước chưa thể mua bán với nhau mà tạo ra sự thịnh vượng chung vì phải tìm bạn hàng ở ngoài. Ngoại lệ ở đây là Trung Quốc, có mức xuất nhập khẩu đáng kể với bốn nước kia và có dự trữ ngoại tệ để đề ra sáng kiến thành lập Ngân hàng Phát triển với số vốn sơ khởi là 50 tỷ đô la. Sở dĩ sáng kiến này có vẻ hấp dẫn vì cho các nước đang phát triển một nguồn tài trợ khác mà chẳng có đòi hỏi khắt khe như Ngân hàng Thế giới hay Quỹ Tiền Tệ IMF.

- Nhưng đã nói về bối cảnh thì ta chẳng quên rằng từ năm 2010 Chính quyền của Tổng thống Barack Obama đã thỏa hiệp và cải cách IMF trong tinh thần mở rộng việc tham gia cho các nước và cuối năm ngoái thì Quốc hội Mỹ chính thức chấp nhận việc cải cách, nên sáng kiến của Bắc Kinh cũng mất phần hấp dẫn. Rồi IMF còn cho đưa đồng Nguyên của Trung Quốc vào rổ ngoại tệ gọi là Quyền Đặc Trích SDR từ đầu Tháng 10 này. Khi ấy, các nước còn lại, nhất là Ấn Độ, thấy việc hợp tác với BRICS chưa hẳn là có lợi về kinh tế lẫn tư thế ngoại giao hay an ninh trong khi đối thủ lâu đời là Trung Quốc lại có vẻ giữ thế thượng phong.

Nguyên Lam: Như vậy, thưa ông, phải chăng dự án BRICS thành hình trên hai nền móng, thứ nhất là hợp tác kinh tế cho sự thịnh vượng chung và thứ hai, đáng kể không kém, là lập ra một thế đối trọng với các định chế quốc tế do các nước Tây phương thành lập từ sau Thế chiến II?


Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa đúng như vậy và cả hai mục tiêu ấy đang thành viển vông.

- Sau giai đoạn tăng trưởng mạnh thì kể từ 2008, năm quốc gia này đã rẽ qua hai ngả. Ba nước Brazil, Nga và Nam Phi đều bị suy thoái và đồng bạc sụt giá nặng so với Mỹ kim, còn lại chỉ có Trung Quốc và Ấn Độ là còn có tăng trưởng. Nhưng sự khác biệt trong cấu trúc kinh tế mới cản trở nỗ lực hợp tác hay hội nhập và từng nước đang có mục tiêu thương mại và đầu tư riêng, nhắm vào các thị trường ở ngoài khối. Vì vậy, sáng kiến của Bắc Kinh tại thượng đỉnh vừa qua là thành lập một khối mậu dịch tự do giữa năm nước qua một Hiệp ước Thương mại lại chẳng được hưởng ứng. Ngoài ba nước bị khủng hoảng là Brazil, Nga và Nam Phi, chỉ có Trung Quốc và nhất là Ấn Độ còn sức tăng trưởng, nhưng Trung Quốc cần xuất khẩu và sẵn sàng đổ hàng rẻ vào bốn nước kia thì khối BRICS lập tức tan rã và Nam Phi có thể xin triệt thoái trước tiên!

- Nền móng hợp tác thứ hai là trở thành một thế lực đối trọng với các định chế do Tây phương lập ra từ sau Thế chiến II thì lại càng viển vông hơn. Định chế quốc tế số một là Liên hiệp quốc thì có Hội đồng Bảo an với năm thành viên thường trực có quyền phủ quyết là Anh, Pháp, Mỹ, Nga và Tầu. Nếu muốn cải cách kiến trúc quốc tế thành hình từ 70 năm trước thì sao Bắc Kinh không đòi cải tổ Liên hiệp quốc và nhận Ấn Độ làm thành viên thứ sáu của Hội đồng Bảo an? Ta nhớ là Tháng Chín vừa qua, Thủ tướng Nhật là Shinzo Abe cũng lên tiếng yêu cầu cải cách Liên hiệp quốc, và việc Nhật Bản, với kinh tế có sản lượng đứng hạng ba sau Mỹ và Tầu, lại chẳng được nhận là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an cũng là điều không thỏa đáng. Tức là khối BRICS muốn cải cách cấu trúc quốc tế nhưng có thành viên vẫn duy trì những gì có lợi cho họ và trong năm nước này, Nga và Tầu trong Hội đồng Bảo an lại là hai nước chưa có dân chủ! Tội gì mà họ thay đổi theo yêu cầu của ba nước còn lại?

Nguyên Lam: Khi ấy, người ta còn thấy một sự khác biệt quan điểm khá trầm trọng giữa lãnh đạo ba nước Nga, Tầu và Ấn khi Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi muốn nêu đích danh một tổ chức khủng bố xuất phát từ Pakistan đã vừa tấn công thị trấn Uri tại khu vực Kashmir của Ấn Độ mà ông Modi gặp sự cản trở của Tổng thống Vladimir Putin và Chủ tịch Tập Cận Bình. Nếu vậy, thưa ông, làm sao khối BRICS có thể hợp tác sâu xa hơn về an ninh?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chuyện này quả thật rắc rối và cho thấy nhiều mâu thuẫn bên trong.

- Số là hôm 18 tháng trước, bốn tên khủng bố của lực lượng Jaish-e-Mohammed, tức là đạo quân của Mohammad, đã từ khu vực Kashmir của Pakistan lẻn qua tấn công một đồn binh của Ấn. Các nước trên thế giới đều lên án hành động này và tổ chức Jaish-e-Mohammed đã bị Liên hiệp quốc cùng nhiều nước khác xếp vào danh mục khủng bố mà thực tế thì vẫn được Pakistan bao che, nhưng nhóm BRICS tránh đả kích tổ chức khủng bố tại Pakistan trong thông cáo chung. Về lịch sử thì Ấn Độ và Pakistan có hiềm khích lâu đời, và Nga là đồng minh của Ấn từ thời Liên Xô, còn Pakistan là đồng minh của Trung Cộng. Riêng hai nước Tầu và Ấn cũng có mâu thuẫn nặng và năm 1962 giao tranh quân sự Ấn-Hoa đã bùng nổ và tình trạng đối nghịch ấy vẫn còn. Ngày nay, Trung Quốc vẫn muốn bênh Pakistan và nước Nga cùng quẫn thì giữ thái độ hữu nghị với Ấn để bán võ khí vì vừa ký một hợp đồng trị giá gần 11 tỷ đô la tại Thượng đỉnh của nhóm BRICS, nhưng tránh làm Pakistan mất lòng vì, như Bắc Kinh, Nga cũng muốn sử dụng quân cảng Gwadar có nước sâu của Pakistan tại Ấn Độ Dương.

- Trong khi ấy, các nước của Hiệp hội Hợp tác Khu vực Nam Á hay SAARC, như Afghanistan, Bhutan và Bangladesh, lại ủng hộ Ấn Độ và từ chối dự Thượng đỉnh SAARC vào tháng tới tại thủ đô Islamabad của Pakistan. Cùng Thượng đỉnh BRICS, Ấn Độ cũng tổ chức hội nghị của Sáng kiến Vịnh Bengale về Hợp tác Đa ngành Kỹ thuật và Kinh tế, gọi là BIMSTEC, gồm các nước Nam Á và Đông Nam Á là Bangladesh, Ấn Độ, Sri Lanka, Bhutan, Nepal, Thái Lan và Miến Điện. Ngược với nhóm BRICS cố tránh chuyện khủng bố, các nước kia, kể cả Thái Lan, cũng đều có cùng quan điểm với Ấn Độ.

Nguyên Lam: Như vậy, người ta thấy Ấn Độ lại bị cản trở ngay trong nội bộ của nhóm BRICS trong khi quan điểm của mình lại được các nước bên ngoài ủng hộ. Gặp hoàn cảnh đó, làm sao năm quốc gia này lại có thể hợp tác gắn bó hơn về các lĩnh vực ngoài kinh tế?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi không nghĩ rằng sẽ có sự hợp tác sâu xa về an ninh hay ngoại giao, mà hợp tác kinh tế thì giới hạn và hội nhập kinh tế thành một khối tự do mậu dịch thì xa vời, trong khi từng nước có khi lại muốn mở rộng giao dịch với kinh tế Nhật, Đức, Mỹ, Anh hoặc Nam Hàn. Còn lại thì chỉ có hai chương trình khởi động từ hai năm nay là có hy vọng. Đó là Ngân hàng Phát triển BRICS với 100 tỷ vốn và vài dự án đã được tài trợ và Quỹ cấp cứu có 100 tỷ đô la cho các nước nhất thời cần thanh khỏan bằng ngoại tệ. Tôi thiển ngghĩ rằng năm nước chưa thể xé chiếu ngồi riêng, nhưng chỉ hợp tác với nhiều nghi ngại và đáng nghi ngại nhất là Trung Quốc cho hai lân bang kia là Nga và Ấn. Kết luận thì năm hòn gạch thiếu xi măng chỉ là cái bệ cho các lãnh tụ hàng năm gặp nhau để nói thách và ngã giá, chứ mục tiêu tranh đua với các nước dân chủ Tây phương chỉ là ảo giác, tốn kém và vô bổ.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ Đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin cảm tạ ông về cuộc phỏng vấn tuần này.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.