Hôm nay,  

Hitler Còn Sống Và Mao Đã Chết

07/09/201600:00:00(Xem: 8618)

Sự kiện hai buổi hòa nhạc tại Sydney và Melbourne vinh danh Mao nhân dịp 40 năm ngày y qua đời được hủy bỏ sau khi ban tổ chức gặp nhiều sự chống đối từ phía người dân, để lại nhiều suy nghĩ. Tại sao một lãnh tụ độc tài có trách nhiệm cho cái chết của 45 triệu người vô tội trong bốn năm từ 1958 đến 1962 mà vẫn được vinh danh?

Câu trả lời dễ dàng và nhanh chóng nhất là vì ban tổ chức ăn tiền của Trung Cộng qua hình thức nào đó chưa được biết.

Thực tế không đơn giản như vậy. Việc tổ chức vinh danh Mao là một phần trong chính sách tuyên truyền quốc tế (soft power) vô cùng tinh vi và tốn kém của đảng CSTQ.

Theo các báo tường thuật, hai thành phố Sydney và Melbourne chỉ đóng vai “chủ nhà” và “tôn trọng tự do ngôn luận”, nguồn bảo trợ thật sự chính cho hai sinh hoạt này do tổ chức có tên “International Cultural Exchange Association” cung cấp.

Theo Global Advisers, chương trình được quảng cáo ồ ạt bằng Hoa Ngữ như là một dịp để “vinh danh lãnh tụ Mao đời đời”, “người đã lãnh đạo cuộc cách mạng dân chủ Trung Quốc đến thành công”, “giới thiệu đặc tính nhân đạo của Mao Chủ Tịch trong mắt của con người toàn thế giới,” v.v..

Tiến Sĩ Chongyi Feng thuộc University of Technology Sydney cho rằng tích cực ủng hộ cho chương trình là các tổ chức thân Trung Cộng trong đó có Liên Hiệp Các Hội Hoa Kiều tại Úc và nhiều phái đoàn theo kế hoạch sẽ từ Trung Quốc đến để tham dự hai buổi hòa nhạc này.

Trong môt bài báo đăng trên The Conversation, Giáo sư Chongyi Feng cũng nhắc lại quan điểm của Mao trong văn hóa nghệ thuật là “không có một nghệ thuật nào là vị nghệ thuật cả” mà đều là một phần của chính trị, của đấu tranh giai cấp. Trong quân đội Trung Cộng, một số ca sĩ, vũ công ngay cả được phong lên cấp tướng như trường hợp bà Thiếu tướng Bành Lệ Viên (Peng Liyuan), một ca sĩ chuyên nghiệp và là vợ của Tập Cận Bình.

Tương tự như Mao, Tập Cận Bình cũng chủ trương văn hóa không tách rời khỏi chính trị và các hoạt động văn hóa cũng nhằm phục vụ đường lối của đảng. Tháng 10, 2011 Tập Cận Bình dành nguyên phiên họp khoáng đại của Trung Ương Đảng CSQT chỉ để bàn đến việc đưa Trung Quốc thành một siêu cường văn hóa. Hàng loạt chiến dịch được tung ra như “Giấc mơ Trung Hoa”, “Giấc mơ Á Châu Thái Bình Dương”, “Đường tơ lụa”, “Viện Khổng Tử”, “Mô thức mới trong quan hệ hữu nghị” và nhiều chiến dịch khác.

Do đó, không cần phải phân tích nhiều cũng biết nguồn tài trợ của chương trình chẳng đến từ đâu xa mà được trích ngay từ ngân sách tuyên truyền văn hóa đối ngoại của đảng CS Trung Quốc.

Không có một dữ kiện cụ thể ngân sách tuyên truyền văn hóa đối ngoại nhưng theo các nguồn có giá trị như của David Shambaugh trên Foreign Affairs, Trung Cộng đã dành khoảng 10 tỉ đô la vào mục đích đánh bóng chế độ. Con số này cao gấp 15 lần ngân sách của Mỹ dành cho các hoạt động văn hóa giáo dục quốc tế. Nếu tính cả các kế hoạch gây ảnh hưởng thế giới về mặt kinh tế, ngân sách của Trung Cộng lên đến 1400 tỉ đô la.

Nhân vật đầu tiên và quan trọng nhất cần phải đánh bóng dĩ nhiên là Mao Trạch Đông.

Lý luận tuyên truyền của Trung Cộng về Mao đặt trên quan điểm lịch sử. Đảng thừa nhận Mao có phạm các sai lầm trong thời kỳ “Bước Tiến Nhảy Nhảy Vọt, Công Xã Nhân Dân”, tuy nhiên, những lỗi lầm đó không che lấp được “công lao vĩ đại” của Mao Trạch Đông đã “người lãnh đạo và dẫn dắt Trung Quốc từ một nước bị hàng trăm năm sỉ nhục thành một nước độc lập tự do và giàu mạnh như hôm nay”. Mao đã qua đời và công trạng của ông ta cần phải được vinh danh như ánh đuốc soi đường không chỉ riêng tại Trung Quốc mà cả trên thế giới. Ngày chết của Mao là ngày vinh danh các thành tựu của y chứ không phải là ngày nhắc lại những sai lầm đã thuộc về quá khứ.

Lý luận này chế ngự trong nhận thức của gần hết người Trung Hoa lục địa mặc dù vẫn còn chưa chinh phục được hết khối người Hoa hải ngoại.

Đối phó với một bộ máy tuyên truyền có một ngân sách 10 tỉ đô la là những tiếng nói lẻ loi, rời rạc của những con người còn có lương tâm và lòng nhân ái nhưng không có phương tiện thông tin gì hữu hiệu trong tay ngoại trừ vài diễn đàn như change.org. Những chiến thắng của cánh dân chủ tại Hong Kong hôm 4 tháng Chín vừa qua là một khích lệ nhưng khó có thể đi xa hơn nếu chỉ dựa vào phương tiện duy nhất là các mạng xã hội.

Bước vào khu sách lịch sử của nhà sách Barnes & Noble để thấy sự tội nghiệp, lẻ loi, cô độc của nạn nhân CS.

Bên cạnh một giá sách hàng trăm cuốn về Hitler và Đức Quốc Xã, chỉ một hai cuốn về tội ác của các lãnh tụ CS như Stalin hay Mao Trạch Đông. Các nhà sử học và nhà văn gốc Do Thái có một trách nhiệm đạo đức mà họ luôn gánh trên vai là không bao giờ để Holocust rơi vào quên lãng. Họ cũng tìm mọi cách để chứng minh Hitler là tội nhân hàng đầu của nhân loại chứ không ai khác và dường như y vẫn còn đang sống đâu đây.

Trong lãnh vực phim ảnh cũng vậy, hàng trăm cuốn phim và gần như mỗi năm đều có nhiều phim mới về Holocust. Nhiều phim được xếp hạng cao trong danh sách phim được ưa chuộng và được trao nhiều giải Oscar như Schindler's List, The Pianist v.v.. nhưng chưa có một phim nào về tội ác của Mao trong các giai đoạn đau thương nhất trong lịch sử Trung Quốc hiện đại của những thời kỳ Cải Cách Ruộng Đất, Công Xã Nhân Dân, Bước Tiến Nhảy Vọt, Cách Mạng Văn Hóa. Lý do đơn giản, nếu có cũng không thu hút khán giả Mỹ vì Mao chỉ giết dân Trung Quốc và đương nhiên không được phép chiếu tại Trung Quốc, nơi có thị trường phim ảnh thứ hai trên thế giới sau Mỹ.

Không ai cho rằng Hitler là người không đáng nguyền rủa nhưng so với Mao Trạch Đông, Hitler chỉ là một học trò về tâm địa ác độc lẫn phương pháp giết người. Tuy nhiên, với phần lớn người đọc Mỹ, Mao đã chết, Chiến tranh Lạnh đã tàn và chủ nghĩa CS là bóng mờ trong quá khứ. Nhu cầu của các cường quốc ngày nay là nhu cầu kinh tế và do đó các liên minh hay chống đối nhau đều phát xuất từ các lý do kinh tế chứ không phải vì ý thức hệ như trước năm 1990.

Thông tin hướng dẫn dư luận và chi phối nhận thức con người nên Mao đến nay vẫn còn là một bóng mờ bên cạnh Hitler.

Kết luận đó đúng, ít nhất với hai Thị trưởng Sydney và Melbourne. Bởi vì nếu có một nhóm người nào đó tổ chức một buổi hòa nhạc vinh danh Hitler, đơn xin phép của nhóm đó chắc bị bác bỏ ngay từ đầu. Giới chức hai thành phố Sydney và Melbourne chấp nhận đơn xin vì lý do Úc có truyền thống tôn trọng tự do ngôn luận, nhưng theo Tiến sĩ sử học Chongyi Feng, người đã viết hàng chục tác phẩm về lịch sử Trung Quốc hiện đại, liệu có nên tha thứ những điều không thể tha thứ được và có nên dùng lý do tự do ngôn luận để ca ngợi một chế độ ngăn cấm tự do ngôn luận hay không. Theo ông là không nên.

Các giới chức hai thành phố có thể nghe con số 45 triêu người chết dưới tay Mao đâu đó hay ngay cả đã đọc Maos Great Famine: The History of Chinas Most Devastating Catastrophe, 1958-62 của Frank Dikưtter, nhưng nghe, đọc là một chuyện và cảm thông với nỗi đau của nạn nhân, sự chịu đựng triền miên của gia đình nạn nhân là chuyện khác.

Trong con đường dài của lịch sử nhân loại, sự thật sẽ thắng và về lâu dài, dù 10 tỉ đô la hay 100 tỉ đô la cũng không che giấu được tội ác của chủ nghĩa CS. Nhưng trước mắt, thực tế đấu tranh của các thành phần dân chủ tại các quốc gia còn bị chế độ Lenin không có Marx cai trị là một thực tế cô đơn, đau lòng và đầy chịu đựng. Đối diện với thực tế và nhìn nhận khó khăn không phải để rồi bỏ cuộc nhưng để biết phải kiên nhẫn hơn và đừng mong ai đến cứu mình.

Trần Trung Đạo

Ý kiến bạn đọc
07/09/201619:38:42
Khách
Nhà sử học người Đức Eva Maria Stolberg: Trung Quốc đứng đầu là Mao Trạch Đông, được nhiều lợi lộc trên xương máu của nhân dân Việt Nam, từ việc tạo ra một lá chắn vững chắc từ xa, làm suy yếu kẻ thù của Trung Quốc là Mỹ, ngăn chặn đối thủ cạnh tranh vô cùng nguy hiểm là Nga, để Trung Quốc rảnh tay thanh trừng nội bộ và phát triển.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.