Hôm nay,  

Tết Nguyên Đán (tiếp theo)

12/02/201600:01:00(Xem: 6786)
(Lời tâm tình: Trang Sử Việt đăng trên Vietbao Online thứ Ba và thứ Sáu hằng tuần. Tuy nhiên hôm nay là ngày Tết Nguyên Đán Bính Thân, xin mời Độc giả xem bài “Tết Nguyên Đán (Tiếp theo)”. Thứ Ba tuần tới sẽ tiếp tục đăng “Trang Sử Việt” như thường lệ - NLY)
______________ 
 
Tết Nguyên Đán (tiếp theo) 
 .
III- Tết làng quê, tết thị thành.
1- Tết làng quê người Việt: Tết là mốc thời gian thay cũ đổi mới, ai ai cũng nao nức lẫn lộn lo lắng để chuẩn bị tết. Những người đi làm lụng xa quê luôn nôn nao “về quê ăn tết”. Về quê ăn tết là dịp được gặp lại gia đình, họ hàng, làng xóm đã xa vắng mấy tháng, mấy năm. Mọi người sửa sang nhà cửa, chuẩn bị rim mứt, không thể thiếu bánh chưng hay bánh tét vào ngày tết và muối một vại dưa hành cho đúng điệu:
   Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
   Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.
 .
2- Chợ tết: Phong tục đón xuân đã trở thành truyền thống, nên chợ tết vào cuối tháng chạp hàng hoá rất dồi dào, người mua kẻ bán luôn tấp nập, nói cười rộn rã nên có câu “vui như chợ tết”. Khu bán hoa vào ngày cận tết luôn đủ các loại hoa, màu sắc rực rỡ cả một góc trời. 
 .
3- Bàn thờ gia tiên: Kể từ rằm tháng chạp, bàn thờ bắt đầu sửa sang, lau chùi tỉ mỉ, đồ đồng nơi bàn thờ đem đánh bóng sáng loáng như mới. Chính giữa hương án là một bình hương để cắm hương. Hai cây đèn đối xứng nhau ở hai bên bình hương. Nhà nào có người làm quan văn thì có cờ, biển, chiêng, trống và có giá để bộ bát bửu (8 thứ quí): Túi thơ, quạt, bầu rượu... Nhà nào có người quan võ thì bày bộ “chấp kích” gồm 8 thứ: Phủ việt, dùi đồng, truỳ, đại côn...những thứ này bằng đồng hoặc bằng gỗ được sơn son thếp vàng. 
 .
 4- Tết Hà Nội: Hà nội là đất ngàn năm văn vật, nên truyền thống ngày tết có nhiều phong tục đặc biệt. Kể từ đầu tháng chạp, họ đã chuẩn bị tiền bạc để mua sắm tết, nhà cửa sửa sang, từng gia đình không quên vại dưa hành, hũ trứng muối và vài bì lạp xưởng. Ngày tết dù giàu hay nghèo đều có xôi gấc vì gấc màu đỏ tươi nhìn sáng sủa còn có hy vọng đem lại may mắn. Đĩa hạt dưa rang màu đỏ, ảnh hưởng từ miền Nam cũng không thể thiếu, sau hiệp định Genève 1954, hai miền Nam Bắc chia cắt, miền Bắc phải dùng hạt bí để thay thế. 
.
     Những loại cây, hoa được người Hà Nội ưa thích vào dịp tết là đào, quất, nếu gia đình khá giả thì thêm giò thuỷ tiên. 
     Chiều 30 tháng chạp làm cỗ cúng tất niên, tiễn năm cũ và khấn mời Cha mẹ, Ông bà, Tổ tiên đã khuất về cùng ăn tết với con cháu. Ngày tết bàn thờ hương trầm khói nghi ngút, mọi người trong gia đình từ già đến trẻ đều ăn mặc chỉnh tề; con cháu tuần tự đến chúc mừng cha mẹ ông bà; kế đến người lớn lì xì (mừng tuổi) bằng phong bì đỏ, bên trong là tiền mới để con cháu lấy hên và người lớn cũng dặn dò con cháu ngoan, chăm chỉ học hành và siêng sắn làm việc.
     Người Hà Nội thường dùng các loại trà có tiếng là thơm ngon: Chè ướp sen, chè Ninh Thái, chè Thiết Quan Âm... Món ăn Hà Nội thường được nấu nướng đúng cách, mùi vị thơm tho, cỗ bàn phải đủ lệ đủ món. Mâm cỗ tết thường có 4 bát, 6 đĩa. Khá giả hơn thì 8 bát, 8 đĩa. Bát thì có: Bát miến nấu lòng gà, bát bóng su hào nấu với thịt heo nạt... Đĩa thì có: Đĩa gà luộc, đĩa cá kho riềng, thịt bò kho khô...
 .
 5- Tết Huế: Huế là cố đô của Việt Nam ở miền Trung. Năm 1788, vua Quan Trung chọn Phú Xuân (Huế) làm kinh đô. Năm 1802, vua Gia Long lên ngôi vẫn dùng Huế làm thủ đô của nhà Nguyễn. Đất Huế nổi tiếng cảnh đẹp thơ mộng, có núi Ngự sông Hương và nhiều lăng tẩm nguy nga cổ kính. 
.
     Người Huế phần lớn là người gốc Bắc. Năm 1558, họ đã theo Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên, chúa Nguyễn đầu tiên) vào trấn thủ Thuận Hóa và dần dà người Bắc vào đất Thuận Hoá đông hơn. Mỗi nhà ở Huế thường có một cái vườn rộng, thường trồng hoa quả để thu nhập thêm cho kinh tế gia đình, hàng rào cắt tỉa đẹp đẽ, hòn non bộ, cây kiểng trông rất ngoạn mục, đẹp nhất là vào dịp xuân về.      Ngày 23 tháng chạp tiễn ông Táo về trời, tổ chức lễ cúng rất long trọng, khi đã cúng xong là lễ rước ông Táo mới vào bếp và 3 ông Táo cũ đặt trên một cái khay có lót giấy vàng mã và thắp nhang, đưa đến một gốc cây cổ thụ hoặc để cạnh các am miếu, vái ba cái rồi ra về. Nhưng ngày nay, nhiều gia đình không còn dùng bếp củi nên tục này đã giảm. 
     Sau ngày tiễn ông Táo, dân Huế rộn ràng lo việc chạp mộ (tảo mộ), thắp hương khấn mời ông bà hoặc người thân đã khuất, cùng về chung vui trong ngày tết với con cháu.
.
     Người nội trợ Huế rất khéo léo khi làm các món ăn, nhất là vào ngày tết. Ngoài bánh chưng bánh tét thơm dẻo, còn có: Bánh phu thê gói lá dừa hấp cách thuỷ. Bánh dừa mận được làm bằng nếp giã nhuyễn gào với dừa và đường, bên ngoài là vừng (mè) rang, sau khi làm xong được gói giấy bóng trông thanh lịch... Món mặn có chả tôm, nem bò lụi... mùi vị thơm tho. Rượu ở Huế có rượu nếp và rượu thuốc, đã được hạ thổ lâu ngày, hương vị ngọt ngào. Người Huế theo đạo Phật khá đông, nên ngày mùng một tết thường cúng chay bằng bánh trái, hoa quả. Cũng có gia đình làm mâm cỗ chay, với bàn tay khéo léo của người phụ nữ Huế, biến chế từ đậu hủ, đậu phộng, hạt sen, nấm... thành những món ăn trông đẹp mắt, mùi vị thơm tho. Sáng mùng một người khách đến nhà đầu tiên gọi là “đạp đất” giống như “xông đất” ở miền Bắc. 
.
     Sáng mùng một, lần đầu tiên ra khỏi nhà, người ta thường chọn giờ tốt để xuất hành và đa số đến các chùa lễ Phật. 
     Trong những ngày tết, người Huế có tục “bói tuồng” bằng cách đi xem hát bội lựa đoạn trình diễn vui, có kết quả tốt. Dân chúng còn đến các vùng lân cận để xem các trò chơi truyền thống như: Hội đấu vật ở Lại Ân, hội bơi trải ở Thuận An, xem hát hò và xem chơi đu ở Phò Trạch... Đến ngày mùng bảy, đồng bào Huế làm lễ hạ nêu kết thúc tết Nguyên đán.
 .
 6- Tết Sài Gòn: Thành phố Sài Gòn thành lập đến nay hơn 300 năm. Năm 1698, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh, theo lệnh của chúa Nguyễn, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình. Năm 1859, Pháp đánh chiếm Nam Bộ, cảng Sài Gòn được thành lập, tàu buôn Tây phương và Châu Á tới lui tấp nập.       
Ngày 15-3-1874, Tổng thống Pháp ký sắc lệnh lập thành phố Sài Gòn. Sài Gòn trở thành đô thị, và bắt đầu kiến trúc trung tâm thương mại, các công sở, đường sá... theo kiểu Tây phương. 
.
Đầu thế kỷ 20, Chợ Lớn sáp nhập vào thành phố Sài Gòn. Sài Gòn trở thành đô thị lớn nhất Đông Dương. Ngày 26-10-1956, Sài Gòn được dùng làm thủ đô của Việt Nam Cộng Hoà. Sài Gòn sắp đến tết có nhiều khu bán hoa, hoa từ Đà Lạt, Hóc Môn, Bà Điểm đưa về thành phố nhộn nhịp, người Sài Gòn vào ngày tết rất quí hoa mai vàng.       
.
Đất đai miền Nam màu mỡ nên hoa quả sởn sơ, nhiều nhất là trái dưa hấu, ruột dưa đỏ tươi, cũng có một số trái ruột vàng óng ánh. Dưa từ Trảng Bàng, Trà Vinh, Cao Lãnh, gần tết tấp nập chở về Sài Gòn. Dưa còn dùng để lấy hột, loại này trồng nhiều ở tỉnh Bình Thuận, dưa chín bổ ra lấy hột phơi khô, nhuộm đỏ, rồi đem bán cho người tiêu dùng. 
.
     Sau ngày 23 tháng chạp, người miền Nam lo việc tảo mộ. Mâm cỗ ở Sài Gòn vào ngày tết thường thấy bánh tét, thịt kho, dưa giá, kiệu muối, nem bì... Vào mùa xuân ở Sài Gòn én bay liệng xập xòe, chim tu hú kêu rộn rã, cu gáy nghe âm thanh nhịp nhàng. Nên người miền Nam có câu: 
       “Cu kêu ba tiếng cu kêu
         Cho mau đến tết dựng nêu ăn chè”.
     Ngày 30 tháng chạp, ngoài việc trồng nêu còn trang trí bàn thờ và có mâm ngũ quả sởn sơ, trong mâm ngũ quả thường không thể thiếu: cầu (mãng cầu); đủ (đu đủ), xài (xoài)... Mứt Sài Gòn dồi dào hơn ở Hà Nội, vì miền Nam có nhiều hoa quả; đặc biệt mứt dừa rất nhiều và thơm ngon hơn các nơi khác.
.
     Đêm 30 tháng chạp, mọi nhà đón giao thừa, tiếng pháo nổ rầm rộ khắp nơi, trong không khí hân hoan “tống cựu nghinh tân”. Sáng mồng một tết cúng năm mới. Cúng xong, trẻ con mặc quần áo mới đến chúc tết ông bà, cha mẹ để được “lì xì” (mừng tuổi) phong bao đỏ tiền mới. 
Ngày tết Sài Gòn cũng có một số nhà hàng bán đồ ăn uống và múa lân không thể thiếu, khu phố nào cũng có một đội lân do người có thế lực bảo trợ. Những nhà buôn bán giàu có thường treo giải thưởng rất cao, trong khi lân múa chúc mừng gia chủ, người trong đội lân đứng lên vai nhau làm thang để lân trèo lên lấy thưởng giữa tiếng hoan hô náo nhiệt, tiếng pháo nổ ròn rã. Sau ngày mồng bốn tết, bắt đầu trở lại ngày thường.
 .
IV- Tết trong cung đình Việt Nam:
 1- Tết Nguyên đán trong cung đình nhà Trần (1225-1400):       
Các vua nhà Trần cho tổ chức tết thời gian dài như cả mùa xuân. Ngày 30 tết, vua ngự ở Đoan cung, trăm quan đến làm lễ, rồi xem ca nhi múa hát, buổi chiều vua đến cung Động Nhân bái yết Thái thượng hoàng. Đến đêm chư tăng vào Đại nội tụng kinh và làm lễ “Khu na” (lễ đuổi quỷ ma). Sáng sớm mùng một tết vua ngự điện Vĩnh Thọ, các hoàng tử, công chúa và các quan cận thần làm lễ bái hạ; sau đó vua đến cung Trường Xuân hướng về lăng Tiên tổ, lăng phát tích nhà Trần, lăng Thái Tông, Thánh Tông ở huyện Hưng Nhân, làm lễ vọng bái, Hoàng hậu và các phi tần đã chờ đợi ở đấy. Nhạc công tấu nhạc trước sân rồng, mọi người cùng nhau hành lễ và dâng 3 tuần rượu. 
Lễ xong các Hoàng tử lên điện, các quan nội thần ngồi bên tiểu điện phía tây, các quan ngoại thần ngồi hai bên tả hữu. Vua cùng mọi người dự yến đến trưa. Trước điện có dựng một cái đài gọi là đài Chúng tiên cao hai tầng, trang trí vàng bạc lấp la lánh. Vua ngự trên đài, các quan quỳ lạy dâng 9 tuần rượu, rồi ra về.
.
    Ngày mồng hai các quan ăn tết tại nhà riêng,
    Ngày mồng ba, vua ngự trên lầu Đại Hưng, xem các Hoàng tử và con các quan cùng nội giám đánh cầu. Đêm Nguyên tiêu (rằm tháng Giêng), vua cho dựng một cây đèn to, cao ở trong cung gọi là đèn Quảng chiếu, trên đèn thắp hàng vạn đèn nhỏ khác, sáng rực một vùng rộng lớn. Chư tăng đi quanh đèn Quảng chiếu tụng kinh, trăm quan làm lễ bái gọi là lễ “Triều tăng”. 
Cho tới tháng 2, dựng “xuân đài” trong cung, để các ca nhi múa hát, vua ngự trên đài xem biểu diễn ở dưới sân: Đánh vật, đánh cầu, chơi cờ.... trong không khí vui xuân rộn rã. Sau ngày hôm ấy, mới chấm dứt vui xuân.
 .
2- Tết Nguyên đán nơi cung vua Lê chúa Trịnh (1599-1786):       
Nhà hậu Lê chịu ảnh hưởng Nho giáo, nên tổ chức tết nặng phần nghi lễ hơn vui xuân. Ngày 30 tháng chạp, Thượng thiết ty đặt ngự toạ ở điện kính thiên; bày hương án và cắm cờ hai bên rực rỡ; phía đông tây sân rồng đặt Thiều nhạc và Đại nhạc. Thủ vệ ty dàn cờ quạt theo nghi thức đã định. Lễ nghi chế ty lo việc biểu sớ sẵn sàng trên một chiếc án. 
Các quan Bộ lễ và Thừa ty túc trực ở cổng đường, chờ đến canh 5, các quan cùng rước án biểu vào cung. Cờ trống và nhạc đi trước các quan văn võ theo sau. Thừa dụ cục khiêng án biểu đến cửa Đoan môn ở phía sân rồng. 
.
Sáng mồng một tết, Tiết chế phủ (con trai lớn chúa Trịnh), vâng lệnh chúa dẫn các quan mặc lễ phục vào chầu vua Lê và làm lễ chúc mừng năm mới. Hồi trống thứ nhất, các quan xếp hàng thứ tự ngoài cửa Đoan môn. Hồi trống thứ hai, viên Đạo lễ đưa Tiết chế phủ vào sân rồng chờ. Hồi trống thứ ba, các viên chấp sự vào viện Vạn Thọ lạy 5 lạy và 3 vái, rồi rước vua ra điện Kinh Thiên. Các quan văn võ vào đứng hai bên đông tây sân rồng, các quan Thừa ty, Triều yết đứng ngoài cửa Đoan môn.
     Vua lên ngự trên điện, Giáo phường tẩu nhạc. Quan tuyên biểu quỳ tâu và dâng biểu chúc mừng. Quan Đại trí đọc lời chúc mừng của Tiết chế phủ và các quan văn võ. Quan Truyền chế đọc lời đáp của vua. Nhạc nổi lên, Tiết chế phủ cùng các quan lạy 4 lạy, lễ xong vua hồi cung.
.
     Mồng một tết, chúa Trịnh chọn ngày giờ tốt đi lễ Thái miếu, cung miếu, quan Cẩm vệ theo hầu và tuần gác xung quanh. Hiệu Thiên thái hùng bắn súng lệnh đầu năm, Hiệu Thị trung đánh trống khai xuân. Khi Chúa lễ xong, phiên binh đi ban thưởng tiền xuân cho các quan. Tiết chế phủ dẫn các quan tuần tự vào lạy mừng chúa. Chúa ban yến tiệc, tiệc xong các quan lạy tạ ơn chúa; kế đến các quan sang phủ Tiết chế chúc mừng năm mới rồi về ăn tết tại gia.
 .
3- Tết Nguyên đán trong cung đình nhà Nguyễn (1802-1945):         
Tết Nguyên đán, triều đình nhà Nguyễn có những tục lệ:
 - Ngày 20 tháng chạp, làm lễ Phát thức (lễ rửa ấn), các quan chờ ở điện Cần chính; vua đến chứng giám, ấn được rửa bằng nước thơm rồi để ấn vào tủ niêm phong cẩn thận, vì không dùng trong ngày tết. Ngày 22 tháng chạp, làm lễ Hạp hương (lễ mời các Tiên đế về ăn tết) ở điện Thái miếu. Ngày 30 tháng chạp, làm lễ Thượng tiên (lễ dựng nêu), vua ra điện Thái hoà chứng kiến nêu dựng lên. Và kể từ thời gian dựng nêu xong, dân chúng mới được dựng nêu ở gia đình. 
.
     Tại điện Thái hoà có 2 Hoàng án, một Hoàng án để tờ biểu của các quan trong triều; Hoàng án kia để tờ biểu của các quan lại ở các địa phương, về nội dung trong biểu là năm mới chúc mừng nhà vua. Giữa điện trải chiếu cho các hoàng tử, hoàng thân quỳ làm lễ. Hai bên là chỗ bái của các quan văn võ từ tam phẩm trở lên, các quan từ tứ phẩm trở xuống thì đứng dưới sân rồng. Hai phía đông tây có 8 hàng lính đứng hầu và đội nhạc cung đình đứng chờ sẵn sàng tấu nhạc.
.
   Sáng mồng một tết, đầu canh 5; hồi trống thứ nhất, viên Quản vệ dàn bày cờ quạt, nghi trượng... Hồi trống thứ hai, các quan mặc lễ phục đứng sẵn sàng trên sân điện Thái hoà. Hồi trống thứ ba, trên kỳ đài kéo đại kỳ và các sắc cờ khánh hỷ. 
Quan Khâm thiên giám báo giờ, vua mặc hoàng bào đội mũ cửu long đến điện Cần chính, được kiệu rước đến điện Thái hoà. Nhạc tấu, trên thành bắn 9 phát súng lệnh, viên Thái giám đốt hương trầm, quan Nội các tiến lên hoàng án lấy biểu chúc mừng trao cho quan tuyên đọc. Đọc xong, các quan lạy tạ, quan Phụng chỉ đọc lời đáp của vua. Nhạc tấu êm dịu, vua đến điện Cần chính; các hoàng tử, hoàng thân và các quan từ tứ phẩm trở lên thứ tự đứng hầu. Thái giám dắt các hoàng tử, hoàng đệ còn nhỏ tuổi đến lạy mừng 5 lạy. Sau đấy vua ban yến và thưởng tiền xuân cho mọi người.       
Mồng hai tết, vua ban yến cho hoàng tộc và các quan. Mồng bốn tết, cử hành lễ Triều minh, vua ngự đến Thái miếu, Thế miếu, Hưng miếu... để lễ bái. 
.
Trong dịp đầu xuân, còn tổ chức lễ “tịch điền”. Lễ “Tiến xuân, nghênh xuân” có từ thời Minh Mạng (1829), cúng tế Mang thần (thần coi mùa xuân, cây cối) và Trâu đất tượng trưng cho mùa màng. Nhà Nguyễn còn có “Lễ xuất binh” (lễ tế cờ đạo). Thời vua Đồng Khánh, thêm lễ “Du xuân”, vua được quân lính cáng đi vòng quanh kinh thành và những nơi vua muốn xem, để ngắm xuân và xem dân tình sinh sống ra sao.
 
Nguyễn Lộc Yên

.
.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.