Hôm nay,  

Đông Hải Bốc Khói

31/10/201500:00:00(Xem: 6968)
Mới Chỉ Là Khói, Sự Ngần Ngại Của Hoa Kỳ Mới Dễ Bốc Lửa

Sau nhiều tháng bật tín hiệu và cả tháng báo trước, cuối cùng, Hoa Kỳ giữ đúng lời hứa là bảo vệ quyền tự do lưu thông trên biển Đông Nam Á. Hôm Thứ Ba 27 vừa qua, khu trục hạm có hỏa tiễn dẫn đạo USS Lassen đã kín đáo vào trong phạm vi 12 hải lý của hai cụm đá do Bắc Kinh xây dựng và củng cố thành hải đảo có trang bị võ khí. Khi được Ủy ban Quân vụ Thượng viện gặng hỏi, Tổng trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ash Carter xác nhận việc đó, nhưng không nói thêm chi tiết. Ở tại chỗ, các viên chức Bắc Kinh gay gắt cáo buộc rằng Hoa Kỳ leo thang chiến tranh và xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc. Rồi xuống giọng.

Quyết định nhỏ nhoi này lại có ý nghĩa cụ thể, rằng Hoa Kỳ bác bỏ việc Bắc Kinh khẳng định lãnh hải từ mấy cụm đá họ đã chiếm đóng. Lập trường chính thức của Hoa Kỳ là không đứng ở phe nào trong vụ tranh chấp chủ quyền trên nhiều cụm đá hay đảo chìm nổi của vùng biển Đông Nam Á. Vì không thiên về quan điểm của Trung Quốc hay của các nước Đông Nam Á như Việt Nam và Phi Luật Tân, Hoa Kỳ chẳng muốn thách thức Trung Quốc, và còn thông báo là sẽ làm vậy trên các biển đảo đang do Việt Nam và Phi Luật Tân chiếm đóng để giữ vị thế trung lập nhằm khẳng định quyền tự do lưu thông theo luật lệ quốc tế.

Trước khi đi vào ý nghĩa chiến lược của một hành động nhẹ nhàng, chúng ta cần nhắc lại vài chi tiết rắc rối về pháp lý.

Quốc tế chỉ công nhận là hòn đảo, có lãnh hải 12 hải lý và đặc quyền kinh tế trong phạm vi 200 hải lý, nếu mảnh đất này ở trên mặt biển vào lúc thủy triều cao nhất. Còn lại, các cụm đá chìm, chỉ nổi trên mặt nước khi thủy triều rút, thì chỉ được vùng an toàn là 500 thước vây quanh thôi. Bắc Kinh cơi đất và xây dựng kiến trúc trên các cụm đá chìm ấy rồi gọi là đảo và khẳng định chủ quyền trên các hòn đảo mà Hoa Kỳ gọi là “nhân tạo”. Cách gọi của Mỹ là “đảo nhân tạo” không nêu vấn đề về hành động chiếm đóng của Bắc Kinh mà chỉ nhắm vào một chi tiết pháp lý. Rắc rối!

Năm 2013, khi Bắc Kinh tuyên bố sẽ mở rộng vùng nhận diện phòng không ADIZ (Air Defense Identification Zone) trên vùng biển Đông Nam Á thì Hoa Kỳ đưa ngay hai oanh tạc cơ B-52 vào khu vực để bác bỏ quan điểm của Trung Quốc và khẳng định rằng đấy là không phận quốc tế. Qua hai quyết định này, B-52 vào năm 2013 và USS Lassen năm nay, Chính quyền Barack Obama đã đi một nước cờ nhẹ thay vì đưa vào cuộc những phương tiện tối tân và quy mô hơn. Chúng ta sẽ phân tách chuyện đó ở đây.

*

Tháng Tư năm 2001, Chính quyền George W. Bush vừa nhậm chức thì đã có vụ thử lửa ngoài Đông Hải khi một máy bay trinh sát của Mỹ bị Không quân Trung Cộng uy hiếp và phải hạ cánh xuống đảo Hải Nam. Phi cơ bị câu lưu sau khi phi hành đoàn được thả. Hành động khiêu khích ấy đã khiến Hoa Kỳ phải duyệt lại đối sách của mình tại Đông Á, nhưng vụ khủng bố 9-11 đã đảo lộn tất cả và dẫn Hoa Kỳ vào một cuộc chiến kéo dài lan rộng chống khủng bố Hồi giáo trên toàn cầu.

Mười năm sau, dưới Chính quyền Obama, Hoa Kỳ tuyên bố “chuyển trục” về Đông Á nhưng chưa có hành động gì cụ thể. Trong khoảng thời gian 10 năm ấy, Bắc Kinh liên tục mở rộng ảnh hưởng kinh tế và bành trướng quân sự, từ vùng Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á qua tới Ấn Độ Dương.

Ngày nay, khi Hoa Kỳ vẫn khẳng định mục tiêu chiến lược và lâu dài là quyền tự do lưu thông ngoài biển, hành động của Bắc Kinh lại gây ra vấn đề mới.

Thứ nhất, các đồng minh của Mỹ trong vùng Đông Á, từ Nhật Bản tới Phi Luật Tân và Úc Đại Lợi, đều yêu cầu Obama phải có quyết định cụ thể hơn về chiến lược chuyển trục. Họ mất cả tháng nhắc nhở rồi mới thấy USS Lassen xuất hiện. Chuyện thứ hai là Obama tưởng mình đã đạt thỏa thuận với Chủ tịch Tập Cận Bình trong Thượng đỉnh Mỹ-Hoa vào tháng trước tại thủ đô Hoa Kỳ về 1) nạn tin tặc trên không gian điện não, 2) nạn nhiệt hóa địa cầu, và 3) không quân sự hóa vùng biển Đông Nam Á.

Kết quả là một sự thất vọng nên sau khi lần lữa trước lời yêu cầu của Quốc hội và giới chức quân sự, Tổng thống Obama mới cho đưa khu trục hạm USS Lassen vào cuộc.

Giới quan sát cho rằng Biển Đông đang dậy sóng khi hai đại cường ở hai bờ Thái Bình Dương có thể đụng độ tại miền Tây của biển Thái Bình, là vùng biển Đông Nam Á. Thật ra, trong cuộc đấu trí này, chính là thái độ chần chờ bất nhất của Tổng thống Barack Obama mới gia tăng rủi ro đụng độ, là điều chẳng ai muốn kể cả Bắc Kinh dù họ có tuyên bố là “không sợ chiến tranh”.

Chủ tịch Tập Cận Bình đang trở thành lãnh tụ có nhiều quyền lực nhất kể từ thời Mao Trạch Đông, nhưng bên trong cũng còn chán vạn vấn đề phải giải quyết. Ông cần tìm thế mạnh ở bên ngoài để hoàn tất việc cải cách bên trong. Mấy sáng kiến huê dạng về Con Đường Tơ Lụa hay các dự án bạc tỷ lẫn chuyến thăm viếng Anh quốc hào nhoáng vừa qua là phần “mềm” của việc bành trướng ảnh hưởng. Không mấy ai coi đó là một đe dọa mà còn tìm ra nhiều cơ hội kinh tế có lợi cho mình.

Nhưng hành động gom đá thành đảo và dựng lên một trận đồ quân sự tại vùng biển Đông Nam Á lại là chuyện khác.

Nó khiến các nước nằm trong tầm đạn của Bắc Kinh phải cân nhắc lại rủi ro an ninh của mình. Các cơ chế hữu trách của Hoa Kỳ cũng thấy như vậy. Quốc hội, các Bộ Ngoại giao, Quốc phòng và Thương mại Hoa Kỳ đều yêu cầu Phủ Tổng thống có đối sách thích hợp hơn với Bắc Kinh. Nôm na là cứng rắn hơn. Nhưng Chính quyền Obama đã cố trì hoãn quyết định cho tới tuần qua.

Đáng lẽ, ông phải quả quyết hơn và có phản ứng mạnh mẽ rõ rệt hơn.

*

Đằng sau các cuộc tranh hơi vừa qua là ảnh hưởng chiến lược của hai cường quốc ở hai bờ Tây-Đông của Thái Bình Dương.

Từ Thế chiến II, Hoa Kỳ coi Vành cung Thái Bình Dương là khu vực chiến lược mà nước Mỹ và các đồng minh như Nhật Bản hay Nam Hàn và Úc Đại Lợi lẫn vài nước Đông Nam Á cùng có nhiệm vụ bảo vệ để duy trì quyền tự do thông thương ngoài biển, nhất là qua các eo biển sinh tử của vùng biển Đông Nam Á. Bây giờ, Trung Quốc xuất hiện - và không chỉ nói mà làm – để kiểm soát khu vực này vì nhu cầu giao thương cũng sinh tử cho nền kinh tế Hoa lục, là chuyện chưa từng thấy trong lịch sử Trung Hoa.

Trong cuộc “gặp gỡ” chiến lược ấy, khác biệt Mỹ-Hoa là cách diễn giải luật lệ quốc tế về đảo, cụm đá nổi, đá chìm hay đảo nhân tạo. Trong khi Mỹ cãi về luật thì Tầu lẳng lặng đem xi măng cốt sắt vào sửa lại địa dư hình thể. Rồi cắm cờ, dựng hải đăng và trí pháo trên vùng biển thuộc chủ quyền của nước khác, kể cả chủ quyền của Việt Nam và Phi Luật Tân. Vì vậy mới có tranh luận về phạm vi 12 hải lý hay 200 hải lý, vốn dĩ nằm trong cái lưỡi bò chín khúc của Bắc Kinh.

Hoa Kỳ đặt ra nguyên tắc tiên quyết là không đứng bên nào trong vụ tranh chấp về chủ quyền giữa các nước và viện dẫn Công ước UNCLOS mà mình chưa ký. Thế mạnh của nước Mỹ là khả năng quân sự có truyền thống tới trăm năm của mình. Nhưng cái thế còn cần cái lực về chính trị. Nôm na là phải có ý chí và chẳng sợ rủi ro, là điều nước Mỹ hiện không còn nữa vì trong khi Tập Cận Bình phải lo cải cách bên trong thì Obama cũng muốn cải tạo nước Mỹ.

Đấy mới là ưu tiên của ông.

Bắc Kinh thì đánh giá rủi ro theo kiểu “bát sành không sợ chén kiểu”, nên vừa tung tiền mua chuộc các nước trong Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á ASEAN vừa đẩy pháo vào trận. Các nước có thể cùng chia chút cháo có bầu dục với Con Đường Tơ Lụa hay Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Cơ sở Á châu AIIB, hoặc gặp sự thịnh nộ của ngư phủ và hải quân Trung Quốc trước sự phản đối yếu ớt của Hoa Kỳ.

*

Tuy nhiên, vùng Tây Thái Bình Dương không chỉ có Hoa Kỳ ở xa và Trung Quốc ở gần. Nằm ngay trong cuộc và không được sự bảo vệ của một đại dương là Nhật Bản.

Sau 40 năm phát triển trong thời Chiến tranh lạnh, tạm tính từ 1949 đến 1989 cho tiện, Nhật Bản đã qua 25 năm suy sụp kinh tế, từ 1990 đến nay. Và không thể yên tâm trước sự bành trướng của Trung Quốc ở ngay ngoài ngõ. Càng không thể yên tâm khi đã từng đánh gục nhà Mãn Thanh vào năm 1895 và xâm chiếm Hoa lục từ năm 1931 cho tới khi bị Hoa Kỳ khuất phục vào năm 1945.

Nhật vừa điều chỉnh bản Hiến pháp do Hoa Kỳ soạn thảo năm xưa, để tự giành lấy quyền can thiệp quân sự ở ngoài lãnh thổ nhằm “bảo vệ các đồng minh” và lẳng lặng mở ra nhiều cuộc thao dượt với Phi Luật Tân cùng nhiều nước Đông Nam Á và cả Ấn Độ (cuộc thao dượt Malabar vừa qua tại Vịnh Bengale trên vùng Ấn Độ Dương). Vừa nhậm chức Thủ tướng vào cuối năm 2012, chuyến thăm viếng hải ngoại đầu tiên của ông Shinzo Abe là Việt Nam. Và từ đó ông tranh thủ các nước Đông Nam Á về cả kinh tế lẫn hợp tác quốc phòng.

Bên cạnh Nhật Bản, Nam Hàn cũng không ngồi yên vì phải cân nhắc quyền lợi kinh tế lẫn rủi ro an ninh. Là quốc gia dân chủ theo kinh tế thị trường và có ảnh hưởng kinh tế rất lớn, Nam Hàn vẫn không quên được tai họa do Nhật Bản gây ra từ năm 1910. Chính quyền trung hữu mang đặc tính quốc gia của Tổng thống Phác Cận Huệ vẫn giữ thái độ lạnh nhạt trước thiện chí hòa giải của các chính quyền nối tiếp tại Tokyo, nhất là của Thủ tướng Abe.

Tức là ngày nay, cả hai đồng minh chiến lược nhất của Hoa Kỳ tại Đông Bắc Á vẫn còn nghi ngờ nhau vì trong nhiều năm liền, nước Mỹ chỉ kết giao riêng lẻ với từng nước chứ không có một chính sách kết ước chung - cho tới khi mối nguy của Trung Quốc xuất hiện.

Bên cạnh đó, nếu đảng Dân Tiến đắc cử Tổng thống tại Đài Loan, Chính quyền Thái Anh Văn sẽ công bố chủ trương đối ngoại rất độc lập và từ bỏ chủ quyền trên vùng biển Đông Nam Á, kể cả đảo Ba Bình mà Trung Hoa Dân Quốc thời Tưởng Giới Thạch đã cướp của Việt Nam vào cuối năm 1946 và cải tên thành đảo Thái Bình, đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa, duy nhất có nước ngọt và đã tiếp liệu cho Hải quân Công xưởng Bắc Kinh đi cơi đá xây đảo vì chủ trương hợp tác với Bắc Kinh của Chính quyền Mã Anh Cửu bên Quốc dân đảng….

Vì vậy, trong khi Obama muốn cải tạo nước Mỹ và Hoa Kỳ bận tranh cử, biển Đông có thể dậy sóng và làn khói tỏa ngày nay có thể nháng lửa.

Đáng lẽ Hoa Kỳ nên kêu gọi Bắc Kinh tôn trọng quyền tự do lưu thông ngoài biển và mời hải quân Nhật Bản, Ấn Độ, Úc, Phi Luật Tân và Việt Nam cùng chiến hạm Mỹ thăm thú khu vực này, trong phạm vi 12 hải lý. Tính chất ngoại giao quốc tế của một hành động biểu dương tập thể sẽ làm nguội những cái đầu nóng tại Bắc Kinh. Trễ còn hơn không!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.