Hôm nay,  

Hiệu Ứng Trung Quốc

27/08/201500:00:00(Xem: 6697)

Trung Quốc sẽ từ khủng hoảng kinh tế mà gặp khủng hoảng chính trị.

Sau nhiều hoài nghi, kịch bản Trung Quốc có thể tăng trưởng thấp hơn đang trở thành hiện thực, nhất là từ các biến động tài chính tại Trung Quốc đã làm thị trường thế giới chao đảo từ Á Châu qua Âu Châu đến tận Bắc Mỹ trong mấy ngày liền. Nếu kinh tế Trung Quốc hạ cánh nặng nề thì tình hình sẽ ra sao cho kinh tế thế giới? Xin quý thính giả theo dõi cuộc phỏng vấn của Nguyên Lam với chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa về câu hỏi này.

Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, là một trong những người đã cảnh báo từ lâu rằng Trung Quốc không thể duy trì chiến lược phát triển cũ và sẽ bị suy trầm là hạ cánh nhẹ nhàng, hoặc suy thoái, là hạ cánh nặng nề, ông nghĩ sao về viễn ảnh kinh tế của xứ này sau những biến động tài chính vừa qua? Và về hiệu ứng của Trung Quốc cho kinh tế thế giới?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Sản lượng kinh tế Trung Quốc có thể đứng hạng nhì sau Hoa Kỳ và trước Nhật Bản nhưng xứ này vẫn là một quốc gia lạc hậu về thông tin nên người ta mới ngạc nhiên về những tin xấu đang đồng loạt xảy ra từ hai tháng nay. Nhưng tin xấu này gây hốt hoảng toàn cầu, làm các thị trường cổ phiếu mất nhiều ngàn tỷ đô la trong mươi ngày, nhưng cũng xác nhận rằng kinh tế Trung Quốc chẳng là sự kỳ diệu và sau ba chục năm có mức tăng trưởng khoảng 10% thì cũng có lúc phải hạ cánh. Bây giờ, ta sẽ tìm hiểu trước tiên về các chỉ dấu hạ cánh này.

Nguyên Lam: Trên diễn đàn chuyên đề của chúng ta, ông dự báo nhiều lần là kinh tế Trung Quốc sẽ bị suy trầm là tăng trưởng chậm hơn và thậm chí suy thoái là còn bị tăng trưởng âm, là hạ cánh nặng nề, với hàng loạt khủng hoảng tài chính, ngoại hối hay ngân hàng. Nghịch lý ở đây là kinh tế Trung Quốc có sản lượng rất cao, có khi bằng 15% của sản lượng toàn cầu, nhưng lại nghèo nàn về thông tin như ông vừa trình bày, thế thì làm sao thế giới bên ngoài có thể biết mà chuẩn bị?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thế giới bị mê hoặc, và nhiều người mất tiền oan, vì cái gọi là sự kỳ diệu kinh tế của Trung Quốc. Chúng ta sẽ khởi sự từ đó để nhìn trên toàn cảnh và dự đóan về hiệu ứng Trung Quốc cho thế giới.

- Người ta nông cạn mà cả tin vào thống kê kinh tế của Trung Quốc, vào những chỉ tiêu tăng trưởng như 7,4% hay 7% một năm được Chính quyền Bắc Kinh đưa ra, rồi từ đó lập kế hoạch đầu tư hay giao dịch với thị trường Trung Quốc. Diễn đàn của chúng ta đã nhiều lần đề cập tới tính chất thiếu minh bạch và bất khả tín của thống kê Trung Quốc dù Bắc Kinh đã nhiều lần cải sửa và tránh dùng số liệu báo cáo từ các địa phương.

- Năm 2007, khi còn là Bí thư tỉnh Liêu Ninh, đương kim Thủ tướng Lý Khắc Cường phát biểu rằng số liệu Tổng sản lượng GDP của Trung Quốc là “nhân tạo”, tức là không đáng tin. Ông còn nói thầm với Đại sứ Hoa Kỳ khi đó rằng bản thân thì ông tìm vào số liệu về tiêu thụ điện lực, lượng hàng hóa vận chuyển bằng hỏa xa và tín dụng cấp phát để ước tính sản lượng kinh tế của quốc gia. Cứ theo nguyên tắc thực tiễn ấy, nhiều trung tâm nghiên cứu của nước ngoài mới tính lại sản lượng thật của Trung Quốc. Gần đây nhất, trung tâm Capital Economics tại Anh quốc đưa ra mức tăng trưởng kinh tế Trung Quốc chỉ có 4,8%, còn trung tâm Lombard Street Research cũng của Anh thì tính ra một đà tăng trưởng là 3,7%. Những biến động liên tục trên thị trường địa ốc, cổ phiếu rồi ngoại hối đã xác nhận rằng tình hình Trung Quốc không được khả quan mà thật ra còn nguy ngập.

Nguyên Lam: Cho đến nay, người ta chưa đánh giá được mức độ nguy ngập ấy và Nguyên Lam còn nhớ rằng ông đã cảnh báo về khối nợ rất cao của Trung Quốc, với hậu quả tai hại cho hệ thống ngân hàng xứ này. Thưa ông, bây giờ nếu quả thật là kinh tế Trung Quốc chỉ tăng trưởng bằng phân nửa tiêu chí chính thức thì sự thể sẽ ra sao cho thế giới?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước khi đi vào lớp mây mù kỳ ảo đó thì tôi xin phép nhắc lại vài chuyện có tính chất tiên báo cho sau này.

- Thứ nhất, kinh tế Trung Quốc bị nhiều nhược điểm nội tại, như cựu Thủ tướng Ôn Gia Bảo rồi cựu Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã nói nhiều lần; là thiếu cân đối, không phối hợp, ít công bằng nên chẳng bền vững. Yếu tố không phối hợp ấy rất quan trọng vì chế độ cứ dành cho đảng và nhà nước quyền can thiệp vô giới hạn vào kinh tế. Người dân thì tin là nhà nước có thẩm quyền và khả năng giải quyết mọi vấn đề để đem lại thịnh vượng cho quốc dân. Vậy mà bộ máy đầy quyền hạn ấy lại chẳng phối hợp thì làm sao điều tiết được thị trường? Điều đó mới giải thích những lúng túng hốt hoảng bùng nổ từ Tháng Sáu trên thị trường cổ phiếu và lan qua thị trường ngoại hối.

- Thứ hai, Trung Quốc có núi nợ rất cao, bằng 280% Tổng sản lượng, gần như cao nhất trong các nền kinh tế lớn mà bên trong là nhiều nợ xấu, không sinh lời, khó đòi và sẽ mất. Đa số khoản nợ lại thuộc hệ thống kinh tế và ngân hàng của nhà nước, đã cấu kết với nhau nên dễ gây tác động dây chuyền và có thể dẫn tới vỡ nợ hay phá sản đồng loạt.

- Thứ ba, người ta lầm tưởng rằng lãnh đạo Trung Quốc có khối dự trữ ngoại tệ vĩ đại, tương đương với bốn nghìn tỷ đô la cho một nền kinh tế có sản lượng là 10 nghìn tỷ. Sự thật thì số dự trữ đã giảm từ năm 2013, nay chỉ còn khoảng ba nghìn 650 hay 600 tỷ, và đa số được đầu tư vào việc khác nên không dễ gì chuyển ra thanh khoản đề cấp cứu kinh tế khi hữu sự.

- Sau cùng, khi kinh tế thịnh đạt thì người ta có thể khỏa lấp hay đẩy lui các chứng tật nguy hại đó. Nhưng nếu đà tăng trưởng sút giảm, như một cơ thể bị suy yếu, thì ngần ấy vấn đề lập tức bùng phát và dễ gây ra khủng hoảng. Thí dụ như kinh tế Hoa Kỳ bắt đầu bị suy trầm từ cuối năm 2007 thì vụ khủng hoảng tài chính vào Tháng Chín năm 2008 đã dẫn tới tai họa lớn, bên Âu Châu cũng có vấn đề tương tự và tới nay vẫn chưa giải quyết được.

Nguyên Lam: Xin cám ơn ông Nghĩa về bối cảnh rất phức tạp này. Bây giờ chúng ta nhìn vào tương lai, thưa ông, khi mà nền kinh tế được đánh giá là “công xưởng toàn cầu” mà bị đình trệ hay suy thoái thì thế giới sẽ ra sao, các nền kinh tế khác sẽ gặp vấn đề gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi phải “giải ảo” nữa về sự lầm lạc của nhiều người nên dễ đưa tới kết luận sai. Tôi xin tạm dùng khái niệm gọi là “phân công lao động” giữa nền kinh tế tiêu thụ và nền kinh tế sản xuất.

- Một quốc gia có thể là đầu máy lôi kéo đà tăng trưởng của các nền kinh tế nếu tiêu thụ nhiều và tạo ra nhu cầu sản xuất cho xứ khác. Trung Quốc không là đầu máy lôi kéo đó vì xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu, và tiêu thụ ít hơn đầu tư cùng xuất khẩu. Chính là kinh tế Trung Quốc mới lệ thuộc vào sức tiêu thụ của thế giới. Cũng vì vậy, sau vụ sụp đổ tài chính Âu-Mỹ năm 2008 thì nạn Tổng suy trầm năm 2008-2009 làm nhập khẩu sút giảm - tức là xuất khẩu của Trung Quốc bị sụt. Vì vậy Bắc Kinh mới ào ạt tăng chi và bơm tín dụng vào kinh tế để kích thích sản xuất và chất lên núi nợ.

- Nói cho gọn, các nước tiêu thụ nhiều nên nhập cảng mạnh mới là đầu máy kinh tế của thế giới.

- Đầu máy mạnh nhất chính là Hoa Ky với tiêu thụ chiếm 70% của Tổng sản lượng và nhập siêu - là nhập cao hơn xuất - lên tới mức kỷ lục là 800 tỷ đô la cách nay mươi năm. Trái lại, Trung Quốc là xứ tiêu thụ ít mà xuất khẩu mạnh nên mới trông chờ túi tiền của xứ khác. Khi nhập siêu của Mỹ giảm từ năm 2006 thì Trung Quốc trông vào nhập siêu của các nước còn lại kể từ 2008. Khốn nỗi các nước đó lại mắc nợ và mắc nghẹn nên Trung Quốc mới chết kẹt. Ngày nay, nếu “công xưởng toàn cầu” là Trung Quốc mà suy sụp thì hậu quả cũng không bi đát như người ta thường nghĩ!

Nguyên Lam: Quả thật là ông Nghĩa đã giải ảo chuyện bất ngờ khi đảo ngược vấn đề như vậy. Nhưng Nguyên Lam xin hỏi ông hai điều. Thứ nhất, và trong chương trình kỳ trước ông nhắc đến, rằng thị trường thương phẩm sản xuất ra nguyên nhiên vật liệu bắt đầu sa sút từ năm 2011 chính là do Trung Quốc tiêu thụ ít đi. Như vậy, kinh tế Trung Quốc mới là đầu máy cho các nước sản xuất chứ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Các nước sản xuất đó, đa số tại Mỹ châu La tinh, hay Úc, Canada và vài xứ Đông Nam Á, cứ tưởng rằng họ là đầu máy mà thật ra lại giàng vận mệnh kinh tế của họ vào sức tiêu thụ của Trung Quốc về năng lượng, kim loại hay nông sản. Đà tăng trưởng và xuất khẩu của họ lên xuống là tùy theo giá thương phẩm và thật ra đã xuống từ lâu rồi. Ngày nay, khi kinh tế Trung Quốc suy sụp thì dòng tư bản trút vào các xứ này sẽ còn sút giảm nữa. Nhưng cũng vì vậy mà nhiều quốc gia lại có thể trám vào khoảng trống do Trung Quốc để lại, và hiệu ứng Trung Quốc sẽ là một trật tự sản xuất khác, trong đó vai trò của Trung Quốc bị lu mờ. Sau khi lầm tưởng rằng Trung Quốc là đầu máy, nhiều quốc gia nên nghĩ đến việc chính mình sẽ là đầu máy. Việt Nam ở vào hòan cảnh đó nếu lãnh đạo thay đổi được tư duy và cải thiện được tổ chức.

Nguyên Lam: Câu hỏi thứ hai, thưa ông, sau khi Bắc Kinh tung ra hàng loạt biện pháp tiền tệ để bơm thêm tiền kích thích kinh tế vào ngày Thứ Ba 25 thì các thị trường tài chính thế giới đều có vẻ khởi sắc. Nếu như vậy thì Trung Quốc vẫn là một đầu máy đáng kể cho kinh tế thế giới chứ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ta nên thận trọng về phản ứng nhất thời của các thị trường. Các thị trường tài chính thế giới đều biến động mạnh từ hai tháng nay và tuần qua còn hốt hoảng vì sự thăng trầm không thể kiểm soát được tại Trung Quốc. Một thí dụ về sự hốt hoảng là thị trường chứng khoán Mỹ ngày Thứ Hai 24 khi chỉ số Dow Jones mất hơn ngàn điểm và chỉ số Standard & Poors mất gần 7% vào lúc mở màn. Chính là sự hốt hoảng tài chính mới gây tai họa kinh tế chứ Trung Quốc đã có dấu hiệu suy sụp từ trước rồi,

- Chúng ta đều biết kinh tế toàn cầu có thể bị suy trầm sau nhiều biến động, nhưng nguyên nhân lần này xuất phát từ Trung Quốc và hàng loạt quốc gia đang phát triển và ngược với nhận thức của nhiều người, yếu tố ổn định lại đến từ Hoa Kỳ và các nước công nghiệp hóa. Sau cùng, cũng nên nói thêm rằng hệ thống tài chính Trung Quốc vẫn còn bị kiểm soát và khép kín chứ không tỏa rộng và đan kết với các nước bên ngoài nên nếu Trung Quốc có bị khủng hoảng tài chính thì hậu quả cho xứ khác cũng sẽ giới hạn thôi, vì vậy mà người ta đừng nên hốt hoảng hay lạc quan vì những chao đảo của Bắc Kinh!

Nguyên Lam: Câu hỏi cuối, thưa ông Nghĩa, ông tổng kết thế nào về hiệu ứng suy sụp của Trung Quốc?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ngày xưa, người ta thường nói du thuyền Titanic là con tầu không thể chìm được vậy mà nó vẫn vỡ đôi và chìm nghỉm. Trung Quốc ngày nay cũng vậy. Nhưng xứ này không là thủ phạm của nạn Tổng suy trầm sắp tới mà chỉ là nạn nhân của những sai lầm bên trong và cả sự hiểu lầm của thế giới bên ngoài. Và khác với các nước dân chủ tiên tiến đã từng vượt qua khủng hoảng kinh tế, Trung Quốc sẽ từ khủng hoảng kinh tế mà gặp khủng hoảng chính trị. Vì vậy, ta nên sợ rạn nứt chính trị tại Bắc Kinh hơn là cổ phiếu tuột dốc ở Thượng Hải!

Nguyên Lam: Xin cảm tạ ông Nghĩa về bài phân tích này.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.