Hôm nay,  

Nghịch Lý Của Cải Cách Bầu Cử Ở Hoa Kỳ

25/03/201500:00:00(Xem: 5463)

Hiện nay chúng ta đang ở trong giai đoạn đầu của cuộc tranh cử tổng thống Hoa Kỳ. Một khối tiền khổng lồ đang được vận động gây quỹ, các kế hoạch đang được thiết lập, việc nghiên cứu đối lập đang được tiến hành và scandal đáng kể đầu tiên đã nổ ra với sự khám phá ra rằng Hillary Clinton đã sử dụng một trương mục email riêng tư cho các công việc của chính quyền. Phía trước mặt chúng ta là một chuỗi dài những cuộc tranh cử sơ bộ (primary - ngày bầu cử do mỗi tiểu bang quyết định riêng biệt nhau, để chọn ứng cử viên đại diện đảng ra tranh trong cuộc bầu cử toàn quốc), sau đó là bầu cử toàn quốc (general election - ngày Thứ Ba đầu tiên của tháng Mười Một) cho cuộc đấu nhau giữa các đảng, và có lẽ sau đó là tranh cãi về một số khía cạnh của kết quả bầu cử. Tại Hoa Kỳ, tiến trình bầu cử tổng thống mất khoảng hai năm, đặc biệt là khi tổng thống sắp mãn nhiệm không ra tái tranh cử.

Tiến trình bầu cử này quan trọng đối với thế giới vì hai lý do. Đầu tiên, siêu cuờng duy nhất của thế giới này càng ngày càng chỉ biết có mình (self-absorbed), và tổng thống đương nhiệm - đã bị suy yếu bởi đảng đối lập kiểm soát cả hai viện của Quốc hội - ngày càng bị giới hạn trong những gì mà ông có thể làm. Trong một vài phạm vi nào đó thì điều này đáng lấy làm lo ngại, vì tất cả các cuộc bầu cử tổng thống đều ẩn tàng viễn cảnh của ngày tàn (apocalypse) theo sau nếu đối phương thắng cử. Trong mùa bầu cử ở Mỹ, thế giới nghe phát chán sự phỉ báng và hạ bệ lẫn nhau mà nó có thể gây ra sự lo sợ, vì được phát ra từ một quốc gia sản xuất gần 1/4 sản luợng thế giới mỗi năm, và ngự trị các đại dương của thế giới. Nếu nuớc Honduras có cung cách này, thế giới sẽ không quan tâm. Nhưng khi Hoa Kỳ làm như vậy, diễn đàn công luận có thể làm cho người khác nghĩ rằng Hoa Kỳ đang ở trên bờ vực của sự sụp đổ, và ý nghĩ này có tiềm năng biến thành ít nhiều một số các hành động trên trường quốc tế.

Kiềm Chế Bớt Những Nhiệt Tình Chính Trị

Hoa Kỳ coi mình là một thành phố trên đỉnh đồi, một guơng mẫu cho thế giới. Nhưng đi kèm với bất kỳ một cảm giác cứu rỗi (redemptive sensibility) nào thì luôn có một điều ngược lại: ngày tàn. Ứng cử viên kia phản bội lại ước mơ Hoa Kỳ (promise of America), và do đó phá hủy nó. Những thông điệp cực đoan vì thế đã bị cột chặc (hardwired) vào trong viễn kiến để xây dựng nền cộng hòa.

Những nhà lập quốc hiểu rõ đặc tính thiếu ôn hoà cố hữu (inherent immoderation) của chính trị và tìm cách giải quyết các vấn nạn này bằng cách hạn chế bớt dân chủ (trực tiếp), và nhấn mạnh lên dân chủ đại diện (representative democracy). Nguời Mỹ chọn các đại diện của mình thông qua các thủ tục phức tạp khác nhau. Họ không bầu trực tiếp tổng thống, mà là các thành viên của cử tri đoàn (the Electoral College).

Có vẽ nó như là một định chế cổ lỗ sĩ, nhưng cử tri đoàn vẫn tiêu biểu cho nỗi sợ hãi của những nhà lập quốc về nhiệt tình của quần chúng - áp dụng cho cả hai nhóm nguời, nhóm của những nguời quá sức nhiệt tình, và nhóm của những nguời quá sức thờ ơ. Những nhà lập quốc cũng không tin vào nhà nuớc, mặc dù hoàn toàn hiểu được sự cần thiết của nó. Họ có hai viễn kiến (visions): các đại biểu làm ra luật pháp, và các đại biểu không coi chính trị là một nghề nuôi thân. Bởi vì tái đắc cử không phải là mục tiêu chính của họ, cho nên họ không bị áp lực của dân chủ, nhờ đó họ dùng sự khôn ngoan của mình để làm ra luật.

Những nhà lập quốc thấy rằng xã hội dân sự - cơ sở kinh doanh, nông trại, nhà thờ và các tổ chức tư nhân khác - tối quan trọng hơn là nhà nước, và họ thấy rằng nhiệt tình chính trị quá độ là điều không tốt. Thứ nhất, nó làm mất sự theo đuổi một cuộc sống riêng tư mà họ vô cùng trọng vọng, và nó có khuynh hướng làm cho đời sống chính trị quan trọng hơn mức độ bình thường lẽ ra nên có. Thứ hai, họ sợ rằng những người đàn ông bình thường (phụ nữ còn bị đứng ngoài) có thể được bầu làm đại biểu ở các cấp khác nhau. Các nhà lập quốc thiết lập các tiêu chuẩn về tài sản để đảm bảo độ trong sáng (hoặc họ nghĩ thế) ở các nguời đại biểu và ít nữa cũng hạn chế bớt mức độ quan tâm chính trị của họ. Họ quy định tuổi tác để đảm bảo mức độ trưởng thành. Họ cố gắng định hình nền dân chủ đại diện với các tiêu chuẩn mà họ cho là hết sức quan trọng - song hành với những giá trị tiêu biểu cho giai cấp xã hội của chính họ, nơi mà sự theo đuổi cuộc sống riêng tư là chính yếu và việc công là một bổn phận phiền hà.

Điều này không phải là những nhà lập quốc xem chính quyền không quan trọng; mà là ngược lại, nó là trung tâm điểm của sự văn minh. Mối quan tâm của họ là sự nhiệt tình quá độ của cử tri, vì vậy họ đã tạo ra mô hình cộng hòa của chính quyền đại diện, bởi họ lo sợ những nhiệt tình của quần chúng. Họ cũng lo ngại các chính đảng và các phe phái, cũng như những xúc động được bộc phát ra.

Đảng Phái Và Những Ông Chủ Của Đảng (Party Bosses)

Dĩ nhiên chính những nhà lập quốc đã tạo ra các đảng chính trị ngay sau khi đất nước được thành lập. Các đòi hỏi về tài sản bị tan biến khá nhanh chóng, ý tưởng về các viện lập pháp tiểu bang bầu ra các thượng nghị sĩ bị hủy bỏ, cùng lúc những nhiệt tình ý thức hệ và sự yêu thích scandal lại nổi lên.

Các đảng chính trị được tổ chức ở những tiểu bang, cũng như ở các quận hạt và thành phố bên trong mỗi tiểu bang. Các đảng này xuất hiện với hai vai trò. Thứ nhất là để đào tạo và cung cấp cho quần chúng những nhà lãnh đạo tiềm năng khi bầu cử ở tất cả các cấp. Thứ hai là để phục vụ như là một nhịp cầu trung gian giữa dân chúng - với nhiều tầng lớp, từ người giàu cho tới người nghèo - và nhà nước. Các bộ máy chính trị chính yếu của đất nước này có vai trò vừa nuôi duỡng (feeder) hệ thống cộng hòa vừa kiểm soát chính quyền (ombudsmen) để bảo vệ công dân.

Những ông chủ của đảng không viễn kiến về sự cứu rỗi hay ngày tận thế. Họ là những người mà những nhà lập quốc không muốn: tức các chính trị gia chuyên nghiệp, họ không nhất thiết phải chính mình ra nắm chính quyền nhưng giám sát việc lựa chọn những người ra nắm quyền. Vì những nguời nắm quyền mắc nợ những ông chủ đảng, cho nên các ông chủ đảng quyết định về luật pháp. Và các ông chủ quyền lực nhất sẽ chiếm chổ trong những phòng đầy khói thuốc để chọn các tổng thống.

Dĩ nhiên, đây là hệ thống tạo ra tham nhũng, và nó vi phạm viễn kiến của những nhà lập quốc, nhưng nó cũng phần nào đáp ứng được cái viễn kiến này. Quyền lực của các ông chủ đảng nằm trong việc xây dựng các liên minh qua đó mà họ phục vụ. Ở các thành phố công nghiệp lớn, nơi mà những người nhập cư đến làm việc ở các nhà máy, thì có nghĩa là tìm được những công việc cho cư dân, cung cấp được các dịch vụ cần thiết, duy trì được các trường học và những thứ khác. Họ không làm điều này bởi vì họ có tinh thần phục vụ quần chúng, nhưng vì họ muốn giữ quyền lực. Ngay cả khi các công ty tiêu lòn đưa tiền lại cho các ông chủ đảng để xây trường, hay anh rể của ông chủ đảng sở hữu một công ty xây cầu đường, thì các trường học được cất và những con đường được xây. Các bộ máy chính trị này cũng rất thực ở ngay cả trong những khu vực nông thôn.

Cứ mỗi bốn năm, các ông chủ đảng này tập họp lại tại đại hội đảng với mục đích lựa chọn một ứng cử viên nào có thể giành được chiến thắng. Họ cho phép ứng cử viên có những uốn éo về ý thức hệ của ông ta (ideological foibles), miễn là họ giữ lại được khả năng chỉ định các sếp bưu điện, các thẩm phán và chọn ai để ký các hợp đồng liên bang trong khu vực của họ. Hệ thống này tham nhũng, nhưng nó đã tạo ra các nhà lãnh đạo như Abraham Lincoln, Theodore Roosevelt, Woodrow Wilson, Franklin Roosevelt, Harry Truman và Dwight Eisenhower, cũng như một số người khác ít lừng danh hơn.

Hệ Thống Ông Chủ Chính Trị Bị Gãy Đổ

Bắt đầu từ năm 1972, sau tổng thống Richard Nixon, Hoa Kỳ từ bỏ hệ thống các ông chủ chính trị. Điều này đạt được bằng cách mở rộng mạnh mẽ các cuộc bầu cử sơ bộ ở tất cả các cấp. Thay vì các ông chủ chọn các ứng cử viên và kiểm soát họ (họp caucus), các cuộc bầu cử dân chủ trực tiếp được sử dụng để lựa chọn ứng cử viên. Kể từ khi các ông chủ không còn lựa chọn ứng cử viên, các ứng cử viên chịu ơn các cử tri thay vì các ông chủ. Mỗi năm bầu cử, các cử tri lựa chọn các ứng cử viên và sau đó chọn những nguời nắm quyền. Theo thời gian, sức mạnh của bộ máy chính trị bị đổ vỡ và thay thế bằng một loạt các cuộc bầu cử. Những nhà lập quốc không muốn có mức độ dân chủ này, nhưng họ cũng không hề minh thị muốn có các ông chủ chính trị.

Sự thay đổi này có hai hệ quả không ngờ trước được. Thứ nhất là tầm quan trọng của đồng tiền trong tiến trình chính trị được tăng vọt lên cao. Trong hệ thống cũ, ứng cử viên phải thuyết phục các ông chủ chính trị để họ hỗ trợ. Điều này mất thời gian và công sức và đòi hỏi ứng cử viên đưa ra những lời hứa sẽ thực hiện, nhưng nó không đòi hỏi một lượng tiền lớn. Trong hệ thống bầu cử sơ bộ, riêng rẽ với bầu cử toàn quốc, các cuộc bầu cử sơ bộ diễn ra hầu như ở tất cả các tiểu bang. Các ứng cử viên phải xây dựng các bộ máy của họ ở mỗi tiểu bang và vận động trực tiếp đến cử tri. Điều này có nghĩa là chi tiêu rất lớn để xây dựng bộ máy và mua quảng cáo ở mỗi tiểu bang.

Khi tham nhũng của những ông chủ chính trị đã được kiềm chế, nhưng tầm quan trọng của đồng tiền lại tăng vọt lên, thì các loại hình tham nhũng - luôn là nét đặc trưng trong hệ thống chính trị - cũng thay đổi hình dạng. Tham nhũng chuyển từ đặc quyền đặc lợi cho các ông chủ qua hết lòng o bế những người gây quỹ, nên tham nhũng vẫn còn sờ ra đó. Những nguời muốn cải cách cố gắng hạn chế số tiền có thể được đóng góp, nhưng họ đã bỏ qua hai sự kiện. Đầu tiên, hệ thống sơ bộ để chọn ứng cử viên tổng thống, nói một cách đơn giản là tốn kém đáng sợ, bởi vì để chuyển tải được các thông điệp tới dân chúng trong 50 tiểu bang, nó tốn một gia tài khổng lồ. Thứ hai, vì nó quá quan trọng, nên ý muốn ảnh hưởng lên chính quyền thì khó mà kiềm chế được. Phuơng tiện được dùng là cho tiền, và trong một số trường hợp, nó được thực hiện trong hy vọng cũng như mong muốn là được trả ơn. Những cải cách chính trị làm thay đổi hình dạng của tham nhũng, nhưng không thể loại bỏ nó.

Hậu quả không ngờ thứ hai là nó định chế hóa sự phân cực chính trị. Ông chủ của đảng có thể không phải là nguời nhiệt tình. Nhưng những người đi đến phòng phiếu trong bầu cử sơ bộ thuờng là những nguời rất nhiệt tình. Những cử tri tham gia đi bầu trong các cuộc bầu cử ở Mỹ thì luôn luôn thấp. Những nhà lập quốc chọn ngày đi bầu là ngày Thứ Ba thay vì ngày cuối tuần như ở nhiều nước khác, và đó là ngày làm việc, cũng như phải đón con ở trường, cơm chiều phải nấu và nhiều việc khác nữa. Các nhà lập quốc muốn thiết kế rằng chính trị ít quan trọng hơn so với cuộc sống riêng tư, và trong sự cạnh tranh để chiếm ngày Thứ Ba Bầu Cử này, cuộc sống riêng tư có lợi thế để thắng hơn, nhất là trong các cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ (tổng thống) và các cuộc bầu cử sơ bộ.

Những người đi bầu trong các cuộc bầu cử sơ bộ thuờng có khuynh hướng là những người tin tưởng nhiệt tình. Vị trí trung tâm, nơi có khối cử tri lớn nhất trong cuộc bầu cử toàn quốc, không phải là nơi cho nguời nhiệt tình. Việc giúp con trẻ làm bài tập mang về nhà (homework) cần được ưu tiên. Nhiệt tình hiện hữu ở các phía bìa cánh (wings) của hai đảng (như cực hữu Tea Party trong Cộng Hoà, hay cực tả Occupy Wall Street của Dân Chủ). Điều này có nghĩa là trong bầu cử sơ bộ, chỉ có hai loại ứng cử viên có thể thắng mà thôi. Một loại là nguời có nguồn tài trợ cực kỳ dồi dào - và nhiệt tình của các cánh làm cho việc gây quỹ của họ lại càng quan trọng hơn. Loại thứ hai là nguời có cam kết ý thức hệ. Những người gây quỹ nhiều tiền nhất là những người làm việc với những cử tri nhiệt tình nhất, và cuộc đấu là liệu những nguời của phía trung tâm có thể xoay ra được tiền. Thông thường, câu trả lời là không. Kết quả là phía bìa cánh, mặc dù thuờng là thiểu số trong đảng, lại thường xuyên chọn được các ứng cử viên của họ trong cuộc bầu cử sơ bộ và những ứng cử viên này gặp khó khăn để có thể chiến thắng trong cuộc bầu cử toàn quốc. Trong quan điểm của họ (phía bìa cánh), chiến thắng chẳng có ý nghĩa gì cả nếu phải từ bỏ những nguyên tắc (mà họ chủ trương).

Tất cả những điều này đều được áp dụng như nhau cho các cuộc bầu cử vào Hạ viện và Thượng viện. Có nguời nói rằng hợp tác luỡng đảng chưa bao giờ tốt như bây giờ. Tôi không biết nếu đó là sự thật, nhưng có một điều chắc chắn là các hình phạt dành cho sự hợp tác với đảng đối lập, hoặc di chuyển về phía trung tâm, là cực kỳ cao. Những người duy nhất có thể làm được điều này (hợp tác hay trung dung) là những ứng cử viên có thể huy động được thật nhiều tiền để vận động lôi kéo được khối cử tri trung tâm đi bầu (trong kỳ bầu cử sơ bộ). Và đó là điều rất khó. Kết quả là, tất cả mọi ứng cử viên phải tranh cử trên một lập truờng cực đoan khi tranh ở sơ bộ và di chuyển về phía ôn hoà (trung tâm) trong cuộc bầu cử toàn quốc. Các cuộc cải cách đã định chế hoá sự đạo đức giả và làm cho nhóm nằm bìa trong mỗi đảng một sức mạnh quá lớn hơn mà nó thực sự có, mặc dù cải cách này đã thành công trong việc phá vỡ các ông chủ đảng.

Kể từ năm 1972, Hoa Kỳ đã bầu ra các tổng thống như Ronald Reagan, hai ông Bush, Bill Clinton và Barack Obama. Tôi nhuờng lại cho đọc giả thẩm định xem cải cách này nó như thế nào khi so sánh với cách mà những ông chủ đảng chọn ra các nhà lãnh đạo. Tuy nhiên, tôi cho rằng hệ thống thanh tra của đảng (the ombudsman system) đã bị phá vỡ. Các ông chủ đảng, bởi vì họ tham nhũng, nên họ có thể cung cấp một giao diện giữa cử tri và các chủ lao động (những người muốn có hợp đồng), giữa cử tri và chính quyền. Tôi nghi ngờ rằng sự sụp đổ của hệ thống các ông chủ đảng đã làm dễ dàng hơn cho sự hội nhập của những người Ý, nguời Ái Nhĩ Lan, nguời Do Thái vào xã hội, và làm khó khăn hơn cho người da đen và nguời gốc Tây Ban Nha. Hiện vẫn còn những vùng nhỏ (pockets) của các ông chủ đảng, nhưng nó không phải là chuẩn mực, và họ không thể cung cấp nhiều lợi lộc mà không bị vào tù.

Điều này không có nghĩa là để ngợi ca (romanticize) các ông chủ đảng. Chúng ta, trên tổng thể, thì tốt hơn vì không có họ, và chúng ta không nên làm cho họ hồi sinh. Tôi chỉ là đang cố gắng để giải thích lý do tại sao các cuộc bầu cử của chúng ta đã trở nên quá dài, tại sao tốn quá nhiều tiền, và lý do tại sao nhóm bìa cánh của các đảng lại quyết định được chương trình nghị sự cũng như các ứng xử của lập pháp và hành pháp.

Địa Chính Trị Của Các Cuộc Bầu Cử Ở Hoa Kỳ

Nó cũng có khía cạnh địa chính trị trong vấn đề này. Tiến trình chính trị nội bộ của quyền lực hàng đầu thế giới thì luôn luôn là một vấn đề địa chính trị. Cấu trúc (structure) và phương pháp (method) để các nhà lãnh đạo được lựa chọn ra sẽ định hình các loại nhà lãnh đạo nào lên cầm quyền và đặc định, ở một số các mức độ nào đó, những hạn chế (constraints) đặt lên cho các chính quyền. Địa chính trị, như Stratfor sử dụng ý niệm này, cho rằng những uớc muốn và cá tính (idiosyncrasies) của các nhà lãnh đạo không làm ra sự khác biệt nhiều trong đường dài. Lý do của điều này là vì các nhà lãnh đạo thường bị hạn chế bởi các thực tế toàn cầu. Nó cũng do bởi các tiến trình chính trị nội bộ đặc định (define) ra rằng những gì cần phải được thực hiện để có và giữ quyền lực. Những tiến trình chính trị nội bộ này có các nguồn gốc riêng của nó trong những thế lực phi cá nhân.

Hiện đang có một cuộc giằng co (struggle) dai dẳng giữa viễn kiến của các nhà lập quốc về chính trị nên được thể hiện như thế nào và thực tế của tiến trình chính trị. Các ông chủ đảng, trong một cách kỳ cục, lại thực hiện được nguyên tắc của chính quyền đại diện. Ông ta cũng là biểu tượng của tham nhũng và của hành xử phản-dân chủ. Cái chết của ông đã tạo ra hệ thống bầu cử sơ bộ, đi cùng với hệ thống này là tham nhũng với đặc tính riêng của nó. Hơn nữa, bằng một cách có hệ thống, nó đã hạn chế quyền lực của vị thế trung tâm và tăng cường sức mạnh cho ý thức hệ cực đoan. Các cuộc bầu cử này ở Hoa Kỳ cũng làm cho nguời ta cảm thấy dễ chịu hơn với bịnh tình thế giới, bởi vì những gì mà thế giới nghe được trong các cuộc bầu cử sơ bộ ở Georgia, Vermont hay Texas thì đáng lo ngại. Nền Cộng Hòa Mỹ đã được sáng tạo ra và nó liên tục được tái sáng tạo (reinvented) trên một chủ đề (theme) giống nhau. Mỗi cuộc cải cách tạo ra một hình thức mới của tham nhũng và một thách thức mới cho việc trị vì. Cuối cùng thì tất cả mọi người đều bị mắc kẹt vào cái bẫy của thực tế, nhưng nó đang càng ngày càng lâu hơn để đi vào cái bẫy đó.

Tình trạng này không chỉ đặc thù cho Hoa Kỳ, nó có ở những nơi khác nhưng với huê dạng (pattern) khác hơn. Qua nhiều thế kỷ, dân chúng Mỹ được định hình bởi những người nhập cư, và chính quyền Mỹ chủ ý được xây dựng trên những cấu trúc lý thuyết của những nhà lập quốc. Nó giống như, đất nước này là một liên danh chính trị còn để trống (blank slate). Trong ý nghĩa đó, những làn sóng cải cách diễn ra, tất cả làm thay đổi nền cộng hòa, và tất cả cho ra những hậu quả ngoài ý muốn.

Tôi cố gắng để trình bày ở đây rằng những hậu quả bất ngờ của các cải cách chính trị sau biến cố Watergate, để cho thấy lý do tại sao hệ thống chính trị của Mỹ nó hoạt động như vậy. Nhưng có lẽ cái điểm quan trọng hơn hết nằm ở chổ, vẽ lại chính quyền là tính đặc tính cố hữu (endemic) của thể loại (kind) chính quyền Hoa Kỳ có được, và rằng Hoa Kỳ vừa hấp thụ tốt sự thay đổi, vừa thường xuyên bị ngạc nhiên bởi những gì thay đổi mang đến. Ở những nước khác, không có nhiều khoảng trống để quyền biến, và có lẽ có ít những sự ngạc nhiên và những tiêu chuẩn của thành công hơn. Những đảng chính trị sinh ra đã vận hành ngược lại các ý muốn của những nhà lập quốc, bởi vì tổ chức chính trị thì rộng ra ngoài quần chúng, vượt xa khỏi khối nguời ưu tú (elite), thì đi theo thực tế của logic chính quyền. Sự nổi lên của những ông chủ chính trị đi theo hệ thống này, và cùng lúc các ông chủ này vừa ổn định vừa làm hư nó. Những cải cách hậu Watergate thay đổi đặc tính (nature) của tham nhũng nhưng cũng thay đổi bản chất (texture) của đời sống chính trị. Cái vấn đề sau (thay đổi bản chất) là cái mà Hoa Kỳ hiện đang giằng co.

Trung Quốc, Nga và châu Âu, tất cả đều đang giằng co, nhưng theo những cách khác nhau và hướng về những mục đích khác nhau, thường là do những vấn đề đặc hữu trong các nền văn hóa của họ. Vấn đề đặc hữu trong văn hóa Mỹ là ý chí muốn cải cách. Nó vừa là phẩm cách (virtue) vừa là thói xấu (vice) của chính quyền Hoa Kỳ. Nó có những hậu quả địa chính trị. Đây là một khía cạnh khác của địa chính trị, sẽ được trình bày trong những ngày tháng tới.

George Friedman

Geopolitical Weekly

10/3/2015

http://t.co/sndPxwfBya

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.