Hôm nay,  

VN Nhảy Múa Thận Trọng Với Các Siêu Cường

24/01/201500:00:00(Xem: 4652)
Tác giả: Phuong Nguyen

Người dịch: Trần Văn Minh

East Asia Forum

Bài được đăng tại: https://anhbasam.wordpress.com/2015/01/23/3320-viet-nam-nhay-mua-than-trong-voi-cac-sieu-cuong/#more-144804

*

Quan hệ quân sự Việt – Mỹ đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây, nhưng cuộc bàn luận về mối liên minh gắn bó hơn nữa giữa Washington và Hà Nội đã không nhận ra sự khác biệt tinh tế về địa chính trị và lịch sử. Quan hệ quốc phòng giữa hai nước đã sang trang vào đầu thập niên 2000, khi cả hai nước bước ra khỏi những hệ lụy của cuộc chiến tranh Việt Nam. Hai nước bắt đầu tích cực tìm kiếm những phương cách mới để làm việc với nhau.

Các quan chức quốc phòng và quân sự cao cấp của Mỹ bây giờ đến thăm Việt Nam thường xuyên hơn. Năm 2011, hai nước đã ký một bản ghi nhớ, thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương. Vào tháng 10 năm 2014, chính quyền Obama công bố dỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Điều này có nghĩa là, từ nay Hoa Kỳ sẽ bán vũ khí sát thương cho Việt Nam trên cơ sở từng trường hợp, một bước tiến gần như không thể tưởng tượng chỉ một vài năm trước đây. Với việc dỡ bỏ một phần lệnh cấm, Hoa Kỳ và Việt Nam đã bắt đầu đặt nền móng cho mối quan hệ mua sắm quốc phòng song phương, dự kiến sẽ tiến triển trong vài năm tới.

Nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cản trở mối quan hệ.

Trung Quốc luôn luôn ẩn hiện bao trùm lên tiến trình quyết định chính sách đối ngoại của Việt Nam và Hà Nội lo lắng về việc Bắc Kinh sẽ phản ứng thế nào với việc quân sự Mỹ-Việt xích lại gần nhau.

Việt Nam đã nổi lên như một quốc gia ở tuyến đầu trong khối ASEAN có quyền lợi trong việc duy trì an ninh trên biển và tự do hàng hải trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Trong khi đón chào các lợi ích từ sự quan tâm trở lại của Mỹ, các nhà lãnh đạo của Việt Nam nhận thức rất rõ rằng Trung Quốc coi nhiều vấn đề trong việc tái cân bằng của Mỹ như một nỗ lực ngăn chặn [Trung Quốc]. Việt Nam muốn tránh bị mắc kẹt giữa hai cường quốc và nhiều quan chức tại Hà Nội kín đáo chỉ ra tình hình ở Ukraine như hệ quả của một chính sách đối ngoại bất cân đối.

Với mỗi bước tiến tới việc thúc đẩy quan hệ an ninh với Hoa Kỳ, Việt Nam phải tìm cách trấn an Bắc Kinh.

Các mô hình phức tạp của quan hệ Việt Trung trở nên rõ ràng từ sự cố giàn khoan dầu vào giữa năm 2014, đã làm quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam trở nên tồi tệ nhất trong nhiều thập kỷ.

Khi đối phó với Trung Quốc, Việt Nam thường chỉ kêu gọi sự giúp đỡ từ bên ngoài sau khi đã cạn kiệt mọi giải pháp. Nhiều tuần sau sự bế tắc, Hà Nội và Bắc Kinh đã phải xúc tiến nối lại quan hệ. Nhưng điều đó không ngăn Việt Nam đệ trình một tuyên bố vào cuối năm 2014 yêu cầu Tòa án Trọng tài Thường trực tại Hague xem xét quyền lợi của Việt Nam khi cứu xét vụ kiện pháp lý giữa Philippines và Trung Quốc. Để ứng phó, Bắc Kinh cố gắng vừa trấn an vừa gây áp lực lên Hà Nội, đã không lãng phí thời gian cử một thành viên cao cấp của Bộ Chính trị [Trung Quốc] sang Việt Nam. Ông tuyên bố trong chuyến đi rằng, quan hệ Việt – Trung nên đi vào con đường đúng và phê phán việc sử dụng chính sách ngoại giao la làng.


Ngoài ra, cũng có sự bất đồng xung quanh ý định của Mỹ trong việc thúc đẩy hợp tác quân sự và thắt chặt quan hệ quốc phòng với Việt Nam. Câu chuyện thông thường được giới chức Mỹ đưa ra là Hoa Kỳ không quan tâm đến việc khai thác các vết nứt trong vấn đề đối ngoại của Việt Nam vì lợi ích riêng của mình. Nhưng một số người trong giới lãnh đạo Việt Nam bị bất ngờ bởi những gì họ mô tả như Hoa Kỳ mong muốn tiến nhanh trong lĩnh vực hợp tác quốc phòng.

Với lợi ích chiến lược chung, hai bên tiếp tục cố gắng để xác định một mẫu số chung. Washington đã trở nên quen dần với sự kiên nhẫn cần thiết để mở rộng liên kết quân sự với Hà Nội, trong khi những tiếng nói tiến bộ hơn ở Hà Nội muốn thấy sự hợp tác nhiều hơn với Hoa Kỳ trong những năm tới.

Nhưng các nhà lãnh đạo Việt Nam đang và sẽ lo lắng về việc lao vào bất kỳ loại cam kết nào trong tương lai. Sự không tin tưởng này bắt nguồn chủ yếu không phải từ các xung đột lịch sử, mà vì sự giải thích của Hà Nội về lịch sử tham gia vào Đông Nam Á của các siêu cường.

Ví dụ, nhiều người ở Việt Nam xem việc Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974, khi đó thuộc về chính phủ Việt Nam Cộng hòa được Mỹ hỗ trợ, như là hệ quả việc rút quân của Mỹ khỏi chiến trường Việt Nam và tái lập quan hệ với Trung Quốc hai năm trước đó. Tương tự như vậy, các cuộc đụng độ giữa Việt Nam và Trung Quốc ở bãi Đá Gạc Ma năm 1988 là hệ quả của những gợi ý của Liên Xô từ trước về việc rút khỏi vịnh Cam Ranh và, một lần nữa, Mỹ thuận theo. Cảm giác này sẽ khó sớm phai mờ.

Trong khi Việt Nam hiểu được nhược điểm của mình đối với Trung Quốc, các nhà lãnh đạo Việt Nam vẫn còn mơ hồ về chính sách an ninh chung của Mỹ trong khu vực. Điều này biểu hiện trong chính sách quốc phòng “Ba Không” của Việt Nam: không liên minh quân sự, không đặt căn cứ quân sự nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam, và không dựa vào bất cứ nước nào để chống lại những nước khác.

Quan hệ quốc phòng Việt Mỹ hiện có rất nhiều tiềm năng và có khả năng gia tăng trong năm nay khi hai nước kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao.

Nhưng có một số thách thức mà hai bên cần phải tập trung trong tương lai không xa, chẳng hạn như sự khẳng định của Hà Nội về việc dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương và mong muốn có được thiết bị quân sự của Mỹ, các lời kêu gọi liên tục của Washington cho việc tham gia hoạt động lớn hơn giữa hải quân hai nước và gia tăng tiếp cận hàng năm cho các tàu hải quân Mỹ đến cảng Việt Nam.

Nhưng trong trường hợp thiếu vắng một viễn cảnh rộng lớn, Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ đi đến thỏa thuận trong vấn đề tăng cường hợp tác và đàm phán ở cấp chiến thuật trong tương lai trước mắt.

Phương Nguyễn là chuyên viên nghiên cứu tại Hội đồng Sumitro về Nghiên cứu Đông Nam Á, Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) tại Washington, DC.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.