Hôm nay,  

Lễ Nhạc Mùa Giáng Sinh

20/12/201400:00:00(Xem: 5229)
Mùa Giáng sinh 2014, ghi dấu 39 nãm kể từ ngày người Việt xum họp lần đầu tiên vào ngày Chúa ra đời nãm 1975 trên đất Mỹ, Radio Dân Sinh tại San Jose gửi đến quý vị một chương trình đặc biệt về Lễ Nhạc. Sau đây là phần soạn thảo và dẫn giải của chúng tôi dành cho quý độc giả muốn sưu tầm tài liệu:

Từ ngàn nãm trước, tôn giáo luôn luôn đi cùng với các lễ nghi để dâng lời cầu nguyện lên đấng linh thiêng. Dù là Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Ấn giáo hay Hồi giáo các tín đồ đều quỳ gối, cúi đầu dưới trời cao để cất lời ca ngợi Thượng Đế.

Và lễ nhạc đóng vai trò rất trọng yếu.

Đặc biệt mùa Giáng sinh ngày nay đã có các tục lệ vượt ra ngoài lãnh vực Kitô giáo quy tụ tất cả mọi sắc dân để trở thành một lễ hội truyền thống chung của nhân loại. Các giáo dân của Thiên Chúa giáo, Do Thái giáo, Tin Lành cùng cầu nguyện đã đành, nhiều người theo tôn giáo khác hay ngoại đạo cũng đều sẵn sàng chung vui với tập tục Giáng Sinh.

Đã có hàng ngàn bài ca dành cho đêm Giáng Sinh được viết ra và truyền tụng nhiều nãm. Một số lớn các bài nổi tiếng nhất đều đã được các nhạc sĩ Việt Nam soạn lời Việt.

Sau đây là phần sưu tầm một số các bài Giáng Sinh nổi tiếng ghi lại những kiến thức về lễ nhạc của một tôn giáo lớn trên thế giới. Hy vọng do đó sự thưởng thức sẽ thêm đậm đà.

blank
Nhạc mùa Giáng Sinh.

1. We wish you a Merry Christmas:

(Chúc mừng Giáng Sinh.) Bài lễ nhạc cổ xưa nhất, được hát nhiều nhất trên khắp thế giới trong mùa Giáng sinh đã trở thành một bài hát của tất cả mọi người.

Các nhà sưu tầm ghi nhận, bài ca ngắn với nhịp điệu vui tươi, dồn dập đã được truyền tụng từ thế kỷ thứ 16 nhưng không rõ năm nào, không biết ai đã viết ra cả điệu nhạc lẫn lời ca. Tại Hoa Kỳ, chúng ta biết lời Anh ngữ, nhưng tại các nước Tây Âu, khắp nơi đều có bài ca chúc mừng Christmas với các ngôn ngữ địa phương.

Đây là bài ca bất hủ đã từng được các tiền nhân của các quốc gia Âu châu hát cách đây hơn 400 nãm.

2. Silent Night (1816) (Đêm thánh vô cùng)

Bài Silent Night nguyên thủy là bài thơ phổ nhạc do một nhà truyền giáo nước Áo sáng tác từ 1816.

Hai nãm sau, vào một đêm lịch sử 1818, cây đàn của nhà thờ thánh Nicholas tại một ngôi làng nhỏ bên Áo quốc bị hư. Cha Joseph Mohr bèn dùng cây đàn Guitar để đệm cho bản Silent Night cất tiếng lần đầu trên thế giới vào đêm Giáng Sinh.

Từ ngày đó đến ngay, Đêm Thánh Vô Cùng trở thành bài ca huyền diệu nhất của lịch sử Lễ Nhạc Giáng Sinh.

Kể từ 1818 đến nay gần 200 năm qua, trên TV, Radio, chúng ta đã từng nghe lại nhiều lần bản nhạc xưa cũ và dịu dàng ca ngợi Giáng Sinh.

3. Ave Maria (1825):

Nhà soạn nhạc danh tiếng của Âu châu là Franz Schubert đã hoàn tất bài Ave Maria vào nãm 1825. Đây là bài thơ nguyên tác Anh ngữ của Sir Walter Scott rồi dịch qua tiếng Đức để làm lời cho bản nhạc bất hủ Ave Maria.

Hiện nay bản này được dịch ra hàng trăm ngôn ngữ khác nhau và chúng ta thường nghe các ca sĩ hát trong nhà thờ ngay cả các lễ cưới cũng như các dịp họp mặt mà không chỉ dành cho Lễ Giáng Sinh. Lời nhạc êm dịu thánh thót của bản Ave Maria, không phải chỉ có ý nghĩa tôn giáo mà trải rộng như tình yêu giữa con người.

Nếu ta có thể nói âm nhạc đôi khi là môn thuốc thần diệu để đưa ta vào cõi bình yên thì chính là nhạc điệu Ave Maria của Franz Schubert từ thế kỷ thứ 18.

4.White Christmas (1942):

Bài ca về mùa Giáng Sinh tuyết trắng White Christmas viết bởi soạn giả Hoa kỳ Irving Berlin năm 1942, đã được đưa lên phim ảnh với ca sĩ Bing Crosby.

Đây là bài ca lấy đề tài về tâm tư người chiến binh của Đệ Nhị Thế Chiến giữa mùa Giáng Sinh tuyết phủ xa gia đình. Bài ca nổi tiếng đã làm cho cuốn phim cũng đã một thời nổi tiếng. Cuốn phim tuy đã xưa cũ nhưng riêng bài ca còn truyền tụng đến ngày nay.

5. O Holy Night (1847):

Bài ca ngợi đêm Giáng Sinh có tên là Holy Night được viết ra vào năm 1847 do nhà thơ người Pháp có tên khá dài là Placide Cappeau de Roquemaure và thường được gọi tắt là ông Cappeau. Bài thơ bất hủ này đã được phổ nhạc bởi Adolphe Charles Adams.

Sau này bài thơ phổ nhạc lừng danh Âu châu đã qua Hoa Kỳ và được viết lời Anh ngữ bởi John Sullivan Dwight. Lập tức Holy Night chinh phục Bắc Mỹ và không một nhà thờ nào lại không trình diễn vào mùa Giáng Sinh.

6. Jingle Bells (1857):

Bản nhạc Giáng Sinh gần gũi với quần chúng Việt Nam nhất lại là bản Jingle Bells với cả những lời ca Việt ngữ rất bình dân do các danh hài Sài Gòn sáng tác. (Jingle Bells, Jingle Bells, Jin cái đầu con heo...)

Đây là bản nhạc Giáng Sinh do nhạc sĩ Hoa Kỳ James Pierpont viết ra nãm 1857 cho thiếu nhi nhưng đã làm say sưa cả người lớn. Nhạc điệu vui tươi như tiếng chuông vang vang trên nóc giáo đường, qua các đô thị, các cửa hàng trên đường phố và đến các thôn xóm hẻo lánh trên thế giới.

Đây là bản nhạc Giáng Sinh của Hoa Kỳ chinh phục cả thế giới Âu châu như món quà của Hiệp Chủng Quốc từ tân thế giới gửi về quê hương cũ.

7. Santa Claus Is Coming To Town (1932):

Lại một bản nhạc vui tươi dành cho thiếu nhi Hoa Kỳ nhưng thực sự đã làm rộn ràng cả trái tim người lớn.

Đây là bản nhạc của Haven Gillespie và Fred Coots cùng soạn năm 1932, phản ảnh truyền thống của Hoa Kỳ với các em nhỏ của bao thế hệ đón chào ông già Noel vào mùa Lễ Giáng Sinh.

Tất cả các ban nhạc diễn hành đều phải tập thành thạo bản nhạc dành cho các mùa Giáng Sinh và chơi đi chơi lại nhiều lần.

Đây cũng là bản nhạc có nhiều lời khác nhau đã cùng phổ biến tại Hoa Kỳ, và nghe đi nghe lại không chán.

8. Let It Snow (1945):

Bài hát về tuyết rơi trong mùa Giáng Sinh được viết bởi Sammy Cahn và phổ nhạc do Jule Styne nãm 1945.

Đây là một bài ca có âm điệu rất độc đáo và phổ biến rộng rãi tại Bắc Mỹ. Mới đây lại được đưa vào phim Die Hard (Khó chết) với Bruce Willis đã từng được giới thưởng ngoạn đặc biệt tán thưởng.

9. You're All I Want For Christmas:

Anh chỉ cần em cho Giáng Sinh:

Bài ca Giáng Sinh sau cùng gửi đến quý vị là bài ca về tình yêu. Từ năm 1962, nhóm trẻ da đen gồm 5 thiếu nhiên đã từ giã vỉa hè với trái banh bóng rổ để trở thành ban hợp ca không cần các nhạc cụ phụ diễn.

Hoàn toàn với lời ca, tiếng đàn, tiếng trống bằng mồm, họ đã nổi tiếng và bài Em là quà Giáng Sinh trở thành bản nhạc của nhóm The Persuasions.

Mùa Giáng Sinh anh ôm em trong tay,
Chẳng cần quà Giáng Sinh dưới cây thông.
Em yêu dấu, anh chỉ cần có riêng em,
Là cả thế giới ở trong tay anh.
Xin hãy yêu anh, xin hãy yêu anh,
Như là anh đã yêu em...

Đó là lời ca của bài ca tình yêu Giáng Sinh để kết thúc đề tài Lễ Nhạc Mùa Noel năm 2014 xin gửi đến quý độc giả:

Chúc mừng Giáng Sinh 2014

Chào mừng Tân Niên 2015

Xin chúc quý bằng hữu độc giả năm mới bình yên mạnh khỏe. Chúng tôi sẽ lần lượt gửi đến quý vị hàng tuần những câu chuyện và những nhận định về các đế tài thời sự. Mong được đáp ứng. [email protected]

Giao Chỉ, San Jose

Ý kiến bạn đọc
21/12/201404:14:35
Khách
Những sưu tầm của tác giả thật quí giá. Có thể cho biết thêm về bản nhạc " Chú bé đánh trống" thì tốt quá.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.