Hôm nay,  

Vi Diệu Pháp

21/11/201400:05:00(Xem: 15975)

VI DIỆU PHÁP

       Phan Minh Hành

          Khóa tu kéo dài 9 ngày bắt đầu từ 11-11 đến tối thứ tư hôm nay 19-11 của sư cô Tâm Tâm về bài "Vi Diệu Pháp" ở Thiền đường Mây Từ, đã kết thúc hoàn toàn mỹ mãn và tốt đẹp. Ngoại trừ ngày chủ nhật khóa tu bắt đầu từ 3 giờ đến 6 giờ chiều, còn thì khóa tu khởi giảng từ 5 giờ chiều đến 8 giờ tối. Với thời khóa như thế đã gây nhiều bất tiện trong công việc thường nhật của hàng phật tử trong vùng Bolsa, nhưng trong suốt 9 ngày qua thiền đường chật cứng người đến tham dự, đến không còn lối đi và ghế ngồi! Sư cô Tâm Tâm đã giảng về Vi Diệu Pháp vài lần trong quá khứ và được tán thán khen ngợi rất nhiều, nên đó là lý do chính lôi cuốn hàng phật tử tại vùng nam Cali về tham dự đông đảo khóa tu, bất chấp giờ giấc không thuận tiện cho việc đi làm hằng ngày. Nếu sư cô không nói ra khó ai có thể đoán được sư cô đã đến tuổi thất tuần, bởi trông sư cô Tâm Tâm vẫn còn khỏe mạnh rất nhiều.

blank

          Nhìn lại lịch sử Phật Giáo Vi Diệu Pháp đã được Đức Phật thuyết giảng vào hạ thứ bảy tại cung trời Đạo Lợi, nhằm mục đích độ thân mẫu của Ngài. Vi Diệu Pháp được dịch ra bởi Phạn ngữ Abhidhamma, gồm có hai phần. Abhi là sự thù thắng, uyên thâm, sâu xa; Dhamma là giáo pháp, lời dạy của đấng giác ngộ. Do đó Vi Diệu Pháp có nghĩa là những giáo lý cao siêu, vi diệu, thù thắng, vượt trên tất cả. Đây là giáo lý tinh hoa và nòng cốt của Phật Giáo về cả hai phương diện triết học và đạo đức học.

          Ngày đầu tiên của khóa tu mỗi thính chúng được sư cô Tâm Tâm phát cho một đồ hình về ABHIDHAMMA. Khởi đầu bài giảng sư cô Tâm Tâm nói đến lợi ích về sự hiểu biết Vi Diệu Pháp. Theo sư cô thấu hiểu Vi Diệu Pháp giúp chúng ta có thể chuyển hóa tâm thức bằng giảm dần sự phát triển của tâm ô nhiễm. Nhưng sư cô nhấn mạnh sự ô nhiễm vẫn còn trong tâm thức. Vì vậy chúng ta phải tập hành thiền Vipassana, thì mới loại trừ tận gốc sự ô nhiễm trong tâm. Sau đó sư cô Tâm Tâm trình bày tiếp rằng khi nói về Vi Diệu Pháp ắt phải đề cập đến pháp chân đế và pháp tục đế. Pháp chân đế gồm có hai phần:

          - Pháp vô vi: tức là Niết bàn.

          - Pháp hữu vi: gồm có tâm, sở hữu tâm và sắc pháp, mà trong đó                   tâm và sở hữu tâm là phần danh pháp.

     Một cách khái lược sư cô Tâm Tâm trình bày Vi Diệu Pháp trên đồ hình ABHIDHAMMA, có tất cả 121 tâm, được phân chia ra như sau:

     Trong phần tâm sở( CETASIKA) có:

          - Phần danh pháp( gồm có tâm và sở hữu tâm ) có 52 tâm.

          - Phần sắc pháp có 28 tâm

          - Phần niết bàn có 1 tâm.

     Trong phần tâm vương(CITTA) có:

          - Ở cõi dục giới: có 54 tâm.

          - Ở cõi sắc giới: có 15 tâm.

          - Ở cõi vô sắc giới: có 12 tâm.

     Trong 81 tâm trên được xem là tâm thế, hay là tâm thế gian, nên còn luân hồi trong ba cõi dục, sắc và vô sắc giới.

     Sau cùng còn có 40 tâm được xem là tâm siêu thế, gồm có 20 tâm đạo và 20 tâm quả. Đây là tâm của các bậc thánh, hay của bậc A La Hán và không còn luân hồi trong ba cõi nữa. Tóm lại, có 81 tâm thế gian và 40 tâm tâm siêu thoát, tạo thành ABHIDHAMMA, tức là Vi Diệu Pháp.

          Đứng trước bảng chi pháp sư côTâm Tâm giải thích thêm rằng các hành giả trong cõi tâm sắc giới tu đắc quả từ sơ thiền đến ngũ thiền, thì được sanh lên cõi trời. Còn các hành giả trong cõi tâm vô sắc giới tu đắc quả từ tầng thứ nhất đến tầng thứ tư, thì được sanh lên trong cõi trời phạm vương. Và các hành giả nào ở trong cõi dục giới chứng đắc được quả vị A La Hán, tức là cắt đứt hoàn toàn với sự ô nhiễm để tâm trở thành vô lậu, thì tâm của các A La Hán nầy trở thành tâm duy tác. Tâm duy tác là thứ tâm chỉ còn ánh sáng của trí tuệ và hoàn toàn cắt đứt chủng tử phàm phu. Do đó trong 54 tâm ở trong cõi dục giới phải trừ ra 9 tâm duy tác, đó là tâm của Đức Phật Thích Ca phải xử dụng nhục thân để hóa độ chúng sanh. Vì vậy theo sự chỉ dẫn của sư cô Tâm Tâm, tâm phàm phu của chúng ta chỉ còn lại 45 tâm, gồm có:

          - 12 tâm bất thiên.

          - 17 tâm vô nhân.

          - 8 tâm thiện

          - 8 tâm quả thiện hữu nhân.

     Theo lời sư cô Tâm Tâm vũ trụ dù rộng lớn bao nhiêu cũng không ngoài bốn loại tâm, đó là tâm, sở hữu tâm, sắc pháp và niết bàn. Khi bàn về tâm và tâm sở, Vi Diệu Pháp giúp chúng ta nhận thấy được sự hiện hữu của tâm và sự diễn tiến hoại diệt từng sát na của chúng. Khi nói về sắc pháp, Vi Diệu Pháp giảng giải về những duyên tạo hợp, cũng như những tiến trình sanh diệt từng sát na của sắc. Và khi đề cập về Niết bàn, Vi Diệu Pháp giải thích cặn kẻ về pháp hữu vi sanh diệt, vô thường, hầu giúp chúng ta nhận rõ thế sự thăng trầm của thế gian, đặng tinh tấn tu tập đạt đến đạo quả Niết bàn. Cũng theo sư cô Tâm Tâm, Vi Diệu Pháp chính là nền tảng hiểu biết để thực hành thiền Vipassana đưa đến tuệ giải thoát. Điều tinh túy của Vi Diệu Pháp là sự sâu sắc về bản thể pháp hay pháp chơn đế. Vì vậy, theo sư cô muốn thấu hiểu Vi Diệu Pháp cần nắm vững nghĩa lý của pháp chân đế, khác với tục đế, là sự thật của thế gian. Người con Phật cần phải phân biệt rõ pháp hữu vi với pháp vô vi, để không có sự lầm lẫn, chấp "ngón tay là mặt trăng". Vì vậy các phật tử cần phải hành thiền Vipassana thì mới thấu triệt được tất cả bản chất thật thể của các pháp.

          Trong ngày cuối cùng của khóa tu sư cô Tâm Tâm đã giải đáp thỏa đáng tất cả câu hỏi của thính chúng và tất cả mọi người vô cùng hoan hỉ và biết ơn sư cô đã giảng dạy cho đạo tràng Mây Từ một đề tài Vi Diệu Pháp thực sự hữu ích trên đường trao dồi tu đạo.

          Theo sự tìm hiểu Sư Cô Thích Nữ Tâm Tâm tốt nghiệp Tiến Sĩ Phật Học ở New Delhi, Ấn Độ. Sư cô đã bắt đầu giảng về Vi Diêu Pháp từ năm 2003 và đến nay cũng vẫn còn đang tiếp tục. Hiện sư cô chủ trì Tịnh xá Pháp Huệ tại quận Bình Tân, Sài Gòn. Tịnh xá nầy còn đang trong vòng xây cất ngôi giảng đường Đại Tạng và Thiền Đường Vipassana. Phật tử tại Hải Ngoại muốn cúng dường tịnh tài và tịnh vật, có thể gởi check cho hội từ thiện MilkCare Foundation. Pay to the order of:  MilkCare Foundation. Note: “Gởi Sư Cô Tâm Tâm xây giảng đường”. MilkCare Foundation  P.O. Box 3575  Santa Clara, Califoria 95055-3575. Hoặc

E-mail: [email protected]

          Ngoài ra không thể không kể đến công lao của các tình nguyện viên thường trực ở Thiền đường Mây Từ, như cô Diệu Mỹ, cô Từ Anh, anh Tâm Chánh Đạt vv..vv, và nhất là cô Chân Tịnh Diệu, đã góp bàn tay tác tạo sự thành công viên mãn cho khóa tu. Đặc biệt nhất nhà hàng chay Hương Từ vừa mới khai trương vài tháng qua đã cung ứng vô vị lợi thức ăn tối mỗi ngày cho khóa tu. Không những thế mọi người đến tham dự khóa tu còn được biếu tặng đĩa CD, DVD, sách báo cùng các hình ảnh các vị Phật và Bồ Tát. Thêm nữa tất cả bài giảng về Vi Diệu Pháp của khóa tu 9 ngày ở thiền đường Mây Từ của sư cô Tâm Tâm đã được thu hình vào DVD, và biếu tặng thính chúng ngay sau buổi học. Bởi thế công sức bố thí pháp của các vị tình nguyện viên luôn được mọi người đến tu học ở thiền đường Mây Từ ghi ơn rất nhiều.

 

                                                                                      11/20/2014

                                                                                   Phan Minh Hành

 

 

 

 

    

 


.
,

Ý kiến bạn đọc
02/12/201602:00:47
Khách
Giáo pháp là để giải quyết cái khổ cho chúng sanh. chúng sanh nào tự thấy mình khổ trong cuộc sống này thì tìm đến để học và thoát khổ nhờ vào chánh trí. cón chúng sanh nào tự cho mình quá hạnh phúc trong kiếp sống này thì không cần phải học. nhưng đến lúc khổ thì bế tắt. hậu quả là tà trí. là sân hận. là si mê. là tham vọng. là địa ngục tâm thức. là bất toại nguyện. là vẫn khổ đau.
14/07/201605:30:38
Khách
Bởi vì chỉ có bà mẹ đó mới đủ căn cơ để hiểu được Vi diệu pháp. Còn các bà mẹ khác đã tái sanh về những cõi không thể nghe giảng được. Làm người trở lại khó lắm, làm chư thiên còn khó gấp ngàn lần.
22/11/201413:03:19
Khách
Niết bàn chỉ có một tâm. Tâm đó không có nơi chốn ,không có tướng trạng , cũng không phải không có, cũng không phải không không có. Phủ định toàn bộ như phủ định việc xác lập vô cực trong toán học. Vì khi bạn xác định được vô cực thì vô cực +1 sẽ làm cho vô cực của bạn mất vị trí vô cùng lớn rồi
Niết bạn cũng không thể xác định. Nói rằng phải giác ngộ mới ....xác định được niết bàn là gì cũng không ổn. Vì ngay từ bản chất niết bàn không sinh không diệt,,không từ nơi nào đến ,cũng không đến nơi nào cả,giống hệt như khởi thủy của big bang. Khi đó không có cả vũ trụ lấy đâu sanh diệt hoặc hiên hữu. Đi tu để trở về nơi đó chăng.?
22/11/201412:49:38
Khách
Tất cả chúng sanh rất có thể là cha mẹ của mình trong một kiếp nào đó. Tại sao Đức Phật chỉ có một bà mẹ? Và chỉ độ bà mẹ này? Và chúng ta ở trần gian sao lại có thể biết chuyện ở cung trời đao lợi.
Chẳng hợp lý tí nào. Các vị kể chuyện như thế náy , có tự thấy mình ...mâu thuẩn và thuyết phục không?
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.” Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.