Hôm nay,  

Chị Tôi

10/09/201400:00:00(Xem: 7254)

Viết để kính yêu tặng chị tôi, Phạm Thị Thúy Diệp, một người suốt đời tận tụy săn sóc mẹ già, các em, các cháu.

Các cụ xưa thường nói làm chị lớn trong một gia đình đông con rất là khổ. Câu nói này có thể không đúng với thế hệ người Việt hiện nay nhưng hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh của chị tôi, một người con gái sinh ra tại Việt Nam trong thập niên 1940, một xã hội còn phần nào phong kiến lạc hậu.

Bố tôi thành hôn với mẹ tôi vào năm 1938 do sự sắp đặt của Ông Nội và Ông Ngoại của tôi, 2 trong số những vị quan lại cuối cùng của triều đại Nguyễn. Một năm sau anh cả tôi ra đời, năm sau đó là đến chị tôi và cứ thế mẹ tôi sòn sòn đẻ năm một hoặc ba năm hai...Như vậy là lúc chị tôi được 10 tuổi thì chị đã có 1 anh và 4 em. Khi bố mẹ tôi ra ở riêng thì anh cả của tôi được ông bà nội giữ lại nuôi vì vậy mà chị tôi trở thành người con lớn của gia đình phụ giúp mẹ tôi quán xuyến mọi chuyện...bế ẵm chăm sóc các em.

Bố tôi là Kỹ Sư Công Chánh của chính phủ thuộc địa Pháp đi công tác khắp Bắc Trung Nam và mẹ tôi thì xuất giá tòng phu nên luôn luôn dẫn con cái theo ông. Vào năm 1945 bố tôi đang công tác tại Thanh Hóa thì phần đất này bị Việt Minh chiếm,vì vậy mà gia đình tôi kẹt tại Thanh Hóa. Chính phủ Việt Minh bắt bố tôi làm việc ở Vạn Lại, thỉnh thoảng mới có phép về gập mặt gia đình. Trong khoảng thời gian này vì bố tôi ít có nhà, mẹ tôi lại tần tảo buôn bán ngoài chợ Thanh Hóa cho nên chị tôi hầu như phải gánh vác nhiều việc nhà: giữ em, lo cho các em ăn uống và nhiều chuyện lặt vặt khác mà mẹ tôi sai bảo...Chị tôi kể lại là những năm lúc chị 8 đến 10 tuổi chị thường phải cõng 1 đứa em trên lưng còn hai tay thì dắt anh kế tôi và tôi ra thăm mẹ buôn bán ngoài chợ Thanh Hóa. Kỷ niệm ghi nhớ là lúc chị 10 tuổi,mẹ tôi mới đẻ sanh đôi được ít hôm thì mưa bão làm sập một góc nhà, mẹ tôi thắp một ngọn đèn dầu sai chị tôi qua nhà người bác gần đó để xin giúp đỡ. Ngoài trời mưa bão tối đen như mực chị tôi sợ lắm không muốn đi, nhưng mẹ tôi nói “nếu con không đi thì ai đi bây giờ, mẹ còn phải ở lại trông các em”, chị tôi run sợ nhưng vẫn cố gắng mò mẫm trong đêm tối mưa gió lạnh để đến nhà người bác.

blank
Chị tôi 13 tuổi với 5 người em của chị (Hải Phòng 1953).

Vào năm 1951 bố tôi dàn xếp công tác mang gia đình trốn khỏi nơi Việt Minh chiếm đóng ở Thanh Hóa, về Hà Nội, xuống Hải Phòng làm việc và di cư vào Nam năm 1954. Trong khoảng từ năm 1951 đến năm 1961, mẹ tôi lại sinh hạ thêm được 5 người con nữa...Dĩ nhiên bên cạnh mẹ tôi, ngoài người làm, thì chỉ có chị tôi là người phụ giúp mẹ quán xuyến việc nhà, may vá quần áo và chăm sóc các em. Khi cần chị thay mẹ săn sóc 1 đàn em để mẹ yên tâm ra Huế lo tổ chức đám cưới cho anh kế tôi hoặc khi mẹ có việc phải đi xa.

Ngày còn trẻ chị cũng xinh đẹp và dễ thương có nhiều chàng trai theo đuổi. Thời là nữ sinh Trưng Vương có nhiều chàng kè kè xe đạp tán tỉnh chọc ghẹo chị... Rồi thời chị đi làm tại cơ xưởng của Công Binh VNCH cũng có nhiều chàng chiến binh cũng mong được làm bạn với chị, nhưng theo tục lệ cha mẹ đặt đâu con ngồi đó chị không dám tiến xa hơn. Vào tuổi cập kê cũng có nhiều mai mối đến hỏi chị, nhưng mẹ tôi là người rất thương con cộng thêm cái quan niệm môn đăng hộ đối, cứu xét tông ti họ hàng khi gả cưới...cân nhắc thận trọng nên chẳng đám nào thành và chị thì luôn luôn vâng lời mẹ...để rốt cuộc ở vậy không lấy ai cả.


Chị lấy cái vui của mẹ và gia đình các em là cái vui của mình.Chị luôn mong muốn được quây quần với mẹ và các em. Biến cố 1975 làm mọi gia đình tan tác,bố và các anh phải đi “lao động cải tạo”,thay mẹ chị tôi thăm viếng,tiếp tế lương thực,thuốc men. Chị phụ giúp tài chánh cho gia đình bằng cách cuốn thuốc lá bỏ mối ngoài chợ và đan thêu áo len gởi ra miền Trung bán.Lúc các em đi vượt biên bị bắt,chị lặn lội đi thăm nuôi các em và tìm đường hối lộ công an để bảo lãnh các em ra. Khi anh và các em được thả ra từ trại tù cải tạo Cộng Sản tìm cách vượt biên bằng đường bộ và đường biển thì chị lo lắng biết bao...và chị cũng vui mừng biết bao khi các anh em, các cháu đến trại tỵ nạn an toàn. Niềm vui mừng tột độ của chị là khi chị và mẹ được sum họp đoàn tụ với các anh chị em chúng tôi ở hải ngoại vào năm 1991. Chị luôn luôn hãnh diện là sau biến cố 1975 toàn bộ gia đình chúng tôi có 11 anh chị em cùng tất cả con cháu đều lần lượt định cư tại Mỹ không mảy may suy xuyển một người nào.

blank
Chị tôi tại Mỹ.

Có thể nói là chị tôi suốt một đời ở bên cạnh mẹ tôi phụ giúp cho việc lo lắng chăm sóc gia đình. Bố tôi thì luôn công tác xa nhà chỉ có chị tôi là người ở bên cạnh mẹ khi mẹ sanh nở. Dù là ở bất cứ nơi nào như Thanh Hóa, Quảng Yên, Hải Phòng và Saigon...nơi mẹ sanh con chị cũng là người thay tã, bế em, cho em bú sữa bình …mà không hề than van. Lúc còn trẻ thì phụ giúp mẹ nuôi nấng, may vá quần áo, nấu nướng cho các em. Khi các em lập gia đình có con cái thì lại lo lắng chăm sóc cho các cháu.

Nhưng phải nói công lao to lớn của chị là săn sóc mẹ tôi vào lúc bà tuổi già sức yếu. Những năm gần đây mặc dù đã trên tuổi 70, chị tôi ở bên cạnh mẹ 24/24 lo chăm sóc cho bà từ miếng ăn thức uống và luôn luôn chiều theo ý mẹ. Những năm sau này khi mẹ phải ngồi xe lăn thì việc săn sóc càng ngày càng cực nhọc hơn. Tuy vậy dù khổ cực đến đâu cũng chưa thấy chị than thở điều gì.

Tình yêu chị dành cho mẹ thật là trọn vẹn và bao la mà không người nào trong đám anh chị em của tôi so sánh được.Các anh chị em tôi bận rộn với sinh kế hàng ngày, với gia đình riêng nên có tới chăm sóc mẹ cũng chỉ vài giờ,còn chị thì ở sát bên mẹ ngày cũng như đêm. Cái đáng quý ở nơi chị là chị hầu hạ,chăm sóc mẹ mà không bao giờ kể lể công lao khó nhọc cho ai biết.

Chị Diệp ơi,

Tất cả các anh em cùng với các cháu đều thương yêu, biết ơn và quý trọng sự hy sinh cả một đời của chị cho đại gia đình, nhất là việc tận tụy chăm sóc mẹ vào lúc cuối đời của bà. Nay chị 74 tuổi rồi, chúng em mong chị cố gắng giữ gìn sức khỏe và vui sống tuổi già. Chúng em cũng muốn thu xếp để chị đi chơi đây đó, nhất là về thăm lại quê nội Đông Ngạc, quê ngoại Quảng Yên như ý nguyện của Mẹ… và đến các nơi như Thanh Hóa, Hải Phòng, Hà Nội… nơi mà chị hàng năm vẫn gửi tiền về giúp đỡ họ hàng cũng như người thân trước đây đã quen biết và thường nhắc nhở đến chị.

Người con thứ tư trong gia đình Pham-Huy-Quý: Phạm thị Thúy Mai (TV 59-66)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.