Hôm nay,  

Gặp Lại Dinah Pokempner Ở New York

05/09/201400:00:00(Xem: 3302)

Trong số các bạn người Mỹ thân thiết của tôi ở New York, thì Dinah là người trẻ tuổi nhất, chị mới có 51 tuổi. Nhưng Dinah hiện nay lại là một nhân vật có vai trò khá quan trọng của tổ chức Human Rights Watch ( HRW =Theo Dõi Nhân Quyền) với chức vụ là Cố vấn trưởng (General Counsel). Dinah là người được HRW trao phó theo dõi hồ sơ của tôi từ hồi đầu thập niên 1990, lúc tôi bị chánh quyền cộng sản bắt giam tại Saigon năm 1990 và đến năm 1992 thì họ đưa tôi ra xét xử tại Tòa án Saigon với bản án 12 năm tù giam vì “tôi tuyên truyền chống chủ nghĩa xã hội”, chiếu theo điều 88 Bộ luật hình sự của họ. Vì thế mà Dinah hiểu biết rất rõ về vụ án của tôi.

Năm 2000, khi tôi tới New York để thăm Dick Hughes là người bạn chí thiết đã tận tình lo lắng cứu thóat cho tôi thóat được nạn tù đày của cộng sản, thì Dinah cũng nhờ Dick dẫn tôi đến một tiệm ăn dùng cơm trưa với chị, sau đó lại còn mời chúng tôi ghé thăm gia đình của chị lúc đó đã có hai đứa cháu nhỏ. Ngay trong buổi gặp mặt nhau lần đầu tiên này, hai chúng tôi đã có thể trao đổi với nhau rất thân tình về nhiều chuyện liên hệ đến vụ án, cũng như về hòan cảnh sinh họat của tôi từ ngày đến định cư tại Mỹ từ năm 1996, sau khi tôi được công an đưa thẳng từ nhà tù Hàm Tân Phan Thiết ra phi trường Tân Sơn Nhất, để cùng với gia đình đáp máy bay qua Mỹ.

Và rôi cứ mỗi lần đến New York, thì tôi đều tìm cách để gặp gỡ trao đổi với chị về nhiều vấn đề.Vì cả hai chúng tôi đều là luật sư, nên câu chuyện bàn thảo với nhau thì khá là tương đắc. Có thể nói Dinah có một trình độ hiểu biết sâu xa về luật pháp quốc tế, và nhất là về các khía cạnh tinh vi độc đáo về nhân quyền mà được đặt ra trong thế giới hiện đại. Chị được nhiều đại học mời tham dự giảng dậy hay diễn thuyết về lãnh vực nhân quyền, diển hình như vấn đề tra tấn các tù nhân bị tình nghi thuộc các tổ chức “khủng bố’ sau vụ tấn công 911 ở Mỹ năm 2001, do cơ quan an ninh của chánh phủ Mỹ gây ra. Trong vấn đề này, Dinah đã không hề né tránh sự đụng chạm đến chánh quyền của Tổng thống George W Bush, mà trái lại chị đã tỏ ra rất kiên định cứng rắn trong lập trường bênh vực đến cùng cho phẩm giá và quyền con người của các bị can, theo đúng tinh thần của Bộ Luật Quốc tế về Nhân quyền (The International Bill of Human Rights), mà được Liên Hiệp Quốc công bố vào năm 1976, sau khi các công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị, cũng như về quyên kinh tế, xã hội và văn hóa đã được đa số các quốc gia hội viên phê chuẩn.

Ngày 24 Tháng Sáu 2010 vừa qua, tôi lại đến thăm Dinah tại văn phòng của Human Rights Watch đặt trên tầng lầu thứ 34 của tòa nhà nổi danh là Empire State Building ở khu trung tâm New York. Cơ quan An ninh tại đây đã xét căn cước rất kỹ rồi mới cấp cho tôi một phiếu để có thể vào khu vực đi thang máy lên trụ sở của HRW. Dinah cử người thư ký ra đón tôi ngay tại cửa của trụ sở như mọi lần. Và chúng tôi đã có thể thỏai mái chuyện trò trao đổi với nhau ngay tại văn phòng làm việc riêng của chị.

Đầu tiên, tôi biếu Dinah một dĩa DVD do nhóm của linh mục Nguyễn Hữu Lễ và Trần Quốc Bảo thực hiện với nhan đề tiếng Anh là “Ho Chi Minh, the Man and the Myth” (Hồ Chí Minh, Con người và Huyền thọai). Tiếp theo tôi cũng gửi chị bản Tường trình về Tình hình Nhân quyền ở Việt nam năm 2009” do Mạng Lưới Nhân Quyền Việt nam” chúng tôi tại Nam California biên sọan mới đây vào đầu năm 2010. Dinah cho biết là đã được đọc tài liệu này trên internet rồi, và chị rất chú ý về tệ trạng “Buôn người” (Human Trafficking) tại Việt nam trong những năm gần đây. Chị còn cho biết là HRW sẽ giao trách nhiệm cho một chuyên viên để thâu thập đày đủ chi tiết hơn về đề tài nóng hổi đang gây ra sự quan tâm nghiêm trọng cho giới tranh đấu bảo vệ nhân phẩm của phụ nữ và trẻ em cũng như người lao động tại Việt nam.

Dinah rất chú ý đến việc nghiên cứu của tôi từ trên 10 năm nay, để hòan thành cuốn sách về “Sự Phục hồi Xã hội Dân sự tại Đông Âu 1989 – 2014”. Tôi cho biết là sau 4 kỳ hè đến làm việc trao đổi với giáo sư Walter Sawatsky tại Indiana, thì hai chúng tôi đã thỏa thuận cùng hợp tác để biên sọan cho xong cuốn sách này vào năm 2014, mà phần tôi thì phụ trách viết khỏang 200 trang, còn lại 100 trang về mục “Tôn giáo” sẽ do giáo sư Sawatsky phụ trách. Nhưng gần đây, thì không may giáo sư Sawatsky bị đau bệnh nhiều, nên không thể tiếp tục làm việc chung với tôi được nữa. Do đó mà bây giờ chỉ còn lại có một mình tôi cu ky làm việc, tôi phải cố gắng hòan tất cuốn sách này để có thể cho nó ra mắt bạn đọc vào năm 2015 đấy.


Tôi cũng cho chị biết là tôi nhằm viết cho đại chúng (general public), nên cuốn sách sẽ được trình bày rất sáng sủa, đơn giản dễ hiểu, chứ không phải là tài liệu dành riêng cho giới hàn lâm (academic) như các bài nghiên cứu trao đổi của chị với các đại học đâu. Dinah rất tán thưởng và khuyến khích cái lối làm việc kiên trì, nghiêm túc của tôi từ nhiều năm nay, tập trung vào các khía cạnh thực tiễn của sự vận hành và biến chuyển của khu vực Xã hội Dân sự trên thế giới, và đặc biệt là tại các nước cựu cộng sản ở Đông Âu trong vài chục năm nay.

Tôi cho Dinah xem qua các ghi chép của tôi tại Thư viện Quốc hội Mỹ trong suốt 6 tuần lễ tôi miệt mài làm việc ở đây vào tháng Tư và tháng Năm vừa qua, cụ thể là tôi đã nghiên cứu gần 30 bản Hiến pháp của các nước Đông Âu, của 15 nước mới tách khỏi Liên bang Xô viết, và cả đến 6 nước tách ra từ Liên bang Nam Tư nữa. Khi tôi nói là mình được may mắn vì nhờ được các chuyên viên phân tích luật pháp hỗ trợ tận tình (legal analyst), mà điển hình nhất là Peter Roudik người gốc Nga và Elisabeth Moore phụ trách phòng sưu tầm tài liệu cho Law Library của Quốc hội (documentation specialist), thì Dinah nói ngay: “ Anh có được bao nhiêu nguồn cung câp vừa tài liệu có giá trị, vừa kinh nghiệm sống động của những chuyên viên rành nghề như vậy, thì nhất định là anh phải thành công thôi…”

Nói chuyện về cái duyên của tôi với Thư viên Quốc hội Mỹ khởi đầu từ 50 năm trước, lúc tôi được cử đi tu nghiệp tập sự tại trụ sở Quốc hội Mỹ từ năm 1960 dưới trào các Tổng thống Eisenhower và Kennedy, thì Dinah cũng kể lại lúc coi TV chiếu cảnh Tông thống Johnson tuyên thệ nhậm chức, ngay sau khi Kennedy bị ám sát, thì cô bé Dinah mới có 4 tuổi lúc đó đã hỏi người cha rằng: “Liệu người ta cũng lại bắn ông này nữa chăng?” Chúng tôi còn trao đổi với nhau về nhiều kỷ niệm vui buồn của bản thân mình, và tôi thật tâm cảm kích trước cái tính hồn nhiên và lành mạnh của một chuyên gia hàng đầu này, mà đã làm việc liên tục với HRW từ mấy chục năm nay, khởi sự với cấp bậc thấp nhất, rồi do khả năng vượt trội, chị đã thăng tiến lên chức vụ Cố vấn trưởng từ mấy năm nay.

Dinah có rất nhiều sáng kiến để góp ý cho công việc tôi theo đuổi trong tổ chức Mạng Lưới Nhân Quyền Việt nam. Cụ thể như chị bảo tôi nên thúc giục các bạn làm một cuốn video phỏng vấn nhiều người tù chính trị Việt nam, tương tự như cuốn phim do Stephen Spielberg làm về các người Do thái mà còn sống sót khỏi các lò thiêu (Holocaust ) của Đức quốc xã hồi thế chiến 2. Tài liệu với hình ảnh và tiếng nói sống động như vậy mới gây ấn tượng mạnh mẽ, sâu đậm hơn đối với số đông quần chúng. Tôi sẽ bàn việc này với các bạn cựu tù nhân chính trị, để cùng nhau tìm cách thực hiện cuốn video tương tự như sự góp ý của Dinah.

Trước khi chia tay, Dinah còn chỉ cho tôi xem bức tranh khá đẹp do nhà báo Như Phong tặng biếu cho HRW, mà chị vẫn treo nơi văn phòng của mình. Dinah nói: Ông Như Phong mất đi, tôi thật bùi ngùi thương tiếc một con người kiên trì tranh đấu cho Dân chủ và Nhân quyền ở Việt nam. Tôi cũng xác nhận là vào năm 1991-92, anh em tù chính trị chúng tôi cùng bị biệt giam trong một trại tù với nhau, mà không thể nào thông tin với nhau được. Quả thật nhà tù cộng sản Việt nam hồi đó thật là nghiệt ngã tồi tệ. Như tôi đã có dịp ghi lại trong Nhật ký trong tù hồi ở Hàm tân câu này: “Forgive, but not forget” (Tha thứ, nhưng mà không quên được đâu).

Lần nào gặp gỡ trao đổi với Dinah Pokempner, tôi cũng đều có thêm được ấn tương lạc quan, sáng sủa và tin tưởng mạnh mẽ hơn vào con đường tranh đấu cho Phẩm giá và Quyền Con người tại quê hương Việt nam, cũng như tại khắp nơi trên thế giới vậy. Dinah rõ rệt là một người bạn chiến đấu hết sức là dễ thương, đáng quý đáng trọng của tôi tại thành phố New York thời danh này vậy đó./

New York ngày 25 tháng Sáu 2010

Đòan Thanh Liêm

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.