Hôm nay,  

Anh Phải Ráng Mà Sống, Để Còn…

02/09/201400:00:00(Xem: 4223)
Hồi 50-60 năm trước, học sinh bậc trung học ở nước ta thì đều được học cách phân tích về một bài văn cuả các tác giả nổi danh, cụ thể như cuả các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn thời kỳ năm 1930-40. Một trong các bài văn hay được đưa ra cho học sinh bình giải là cái chuyện ngắn cuả nhà văn Khái Hưng có tiêu đề chỉ gồm có ba chữ, đó là: “Anh Phải Sống”. Câu chuyện thật cảm động, thương tâm, tường thuật cái cảnh hai vợ chồng một gia đình nghèo phải dùng ghe đi vớt củi trôi trên khúc sông Hồng gần thành phố Hanoi. Thì một hôm trời bất thần làm dông bão dữ dội, khiến con thuyền cuả họ bị lật chìm, và hai vợ chồng bị lặn ngụp dưới dòng nước đang xối xả chảy xiết. Người chồng phải gắng hết sức kéo theo người vợ để cùng vượt thoát bơi vào phía bờ sông. Nhưng người vợ nhận thấy tuyệt vọng nếu cứ bám vào chồng, thì cả hai người sẽ bị nhận chìm và chết đuối dưới lòng sông, nên đã tự mình buông tay khỏi người chồng, để anh có thể tự cưú thoát riêng cho một mình được.Và trước khi rời khỏi tay chồng, người vợ đã dặn rằng: “Anh phải sống để còn lo chăm sóc cho mấy đứa con cuả hai người…”Tác giả có ý đề cao sự hy sinh cuả người mẹ, vì thương lũ con mà quên cả mạng sống riêng cuả mình. Câu chuyện thương tâm này được nhà văn mô tả thật khéo léo, đã đánh động lương tâm lớp người trẻ ở tuổi teen age 14-15 chúng tôi thời đó.

Mấy năm sau, khi theo đuổi việc học ở Đại học, thì chúng tôi ở miền Nam Việt nam vào thập niên 1950-60 được tiếp cận với báo chí sách vở từ Âu Mỹ, nhờ vậy mà tầm nhìn được mở rộng thêm lên. Cụ thể, tôi rất tâm đắc với câu định nghĩa tính yêu của nhà văn Antoine de Saint- Exupéry của Pháp. Ông nhà văn mà cũng là một phi công này đã viết lên câu văn bất hủ như sau: “Yêu nhau không phải là chỉ nhìn ngắm nhau, mà là cùng với nhau nhìn chung về một hướng “ (nguyên văn tiếng Pháp: Aimer, ce nest pas regarder lun lautre, mais cest regarder ensemble dans une même direction). Ý tưởng này cũng phù hợp với tâm tình của đôi vợ chồng trong câu chuyện “Anh phải sống” vừa lược ghi trên đây. Cả hai vợ chồng này cùng “ nhìn về một hướng, đó là cùng chăm sóc cho lũ con là sản phẩm tình yêu của hai người”. Chính nhờ sự chung nhau hy sinh, lam lũ khó nhọc cho lũ con như vậy, mà tình yêu của hai vợ chồng mỗi ngày thêm bền chặt, keo sơn gắn bó với nhau tăng lên mãi mãi. Và lời trăn trối dặn dò của người vợ, trước khi buông tay chồng, thì rõ rệt là một biểu lộ cao cả, đẹp tuyệt vời của tình yêu thương trong gia đình này.

Nhưng, như đã ghi trên tiêu đề của bài này, người viết nhằm trình bày về gợi ý của anh bạn thân thiết từ trong nước, nhân được tin tôi bị bệnh heart attack (nhồi máu cơ tim) hồi cuối năm 2008 gần đây. Trong e-mail, anh bạn viết nguyên văn như sau:” Anh phải ráng mà sống, để còn chứng kiến “ la chute de lempire rouge” (sự xụp đổ của đế quốc đỏ). Tức là ngụ ý nói chế độ cộng sản sắp sửa tàn lụi, xụp đổ ở quê hương Việt nam chúng ta. Câu nói này khiến tôi nhớ lại tiêu đề của cuốn sách rất nổi tiếng của nhà nghiên cứu sử học người Anh Edward Gibbons xuất bản năm 1776, cùng năm với cuộc Cách mạng Hoa Kỳ, nhan đề: “The Decline and Fall of the Roman Empire = Sự suy đồi và xụp đổ của Đế quốc La mã. “Cuốn sách này đã gây một chấn động lớn trong giới văn học suốt hai thế kỷ 18 và 19 tại Âu Mỹ. Đến nỗi mà nhà vua Louis XVIII, trở về nắm lại quyền hành tại nước Pháp sau khi Napoléon thua trận Waterlo năm 1815, thì nhà vua với sự tự hào nói rằng: Trong thời gian lưu vong tại Anh quốc, ông đã bỏ hết tâm trí và thời gian để chuyển dịch cuốn sách này từ nguyên bản tiếng Anh sang tiếng Pháp.

Trên thực tế ngày nay, thì gần như tòan bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa do Liên Xô lãnh đạo từ thập niên 1920, thì đã xụp đổ tan tành kể từ năm 1989, bắt đầu ở Đông Âu, rồi sau ở chính Liên Xô mà trước đây, người cộng sản vẫn ca tụng là “thành trì của chủ nghĩa cộng sản”. Tức là lịch sử thế giới có thể ghi lai rõ nét như sau: “đế quốc đỏ của cộng sản đã bắt đầu xụp đổ từ 20 năm nay, kể từ 1989”. Chỉ còn rơi rớt lại 4 quốc gia là Trung Hoa, Việt Nam, Bắc Triều Tiên và Cuba thì trên danh nghĩa còn theo chế độ cộng sản độc tài tòan trị, mà thực chất thì đã biến chất, đã đổi màu quá rõ rệt rồi.

Riêng tại Việt nam, thì sau khi chiến thắng tại miền Nam năm 1975, thì lãnh tụ hàng đầu là Lê Duẫn đã huênh hoang tuyên bố rằng “ Ba dòng thác cách mạng đã tòan thắng trên tòan thế giới, mà Việt nam là một biểu hiện sáng ngới của cuộc chiến thắng vang dội lịch sử đó…” Lãnh đạo thì nói vậy, chứ giới trí thức chuyên gia ở ngòai miền Bắc thì lại nói ngược lại, vì họ hiểu biết cặn kẽ về tình hình nội bộ của cả khối cộng sản. Cụ thể như trường hợp của một vị tiến sĩ khoa học được theo học nhiều năm tại Liên Xô, và sau này làm việc tại Phân Viện Khoa Học phía Nam chung với Tiến sĩ Hồ Sĩ Thỏang, thì anh ấy tâm sự rất thành thực với tôi lúc đó đang giúp anh học thêm về tiếng Anh. Anh bạn nói “ Ở Hanoi, vào đầu năm 1973 khi ký xong Hiệp định Paris, thì lãnh tụ bảo chúng tôi là tương lai sẽ thật tươi sáng huy hòang, vì chiến tranh đã chấm dứt. Thế nhưng sau đó 2 năm, tức là vào đầu năm 1975, thì tình hình cũng vẫn bế tắc, khó khăn, khiến giới trí thức chúng tôi lại thêm bi quan hơn trước. Đùng một cái, với sự xụp đổ của miền Nam, thì giới lãnh đạo lại vẽ ra cho chúng tôi một chân trời mới mẻ, đầy triển vọng lạc quan, tốt đẹp thế này, thế nọ. Mà rồi, như anh thấy đấy, cái hào quang chiến thắng này cũng sẽ chẳng làm sao giúp cho nước ta xây dựng, phát triển được một xã hội thịnh vượng, phú cường đâu. Nếu mà vẫn còn giữ lại cái chế độ chuyên chế, lạc hậu như hiện nay…”

Một anh bạn khác là kỹ sư Tấn, sau mấy năm đi tù cải tạo về thì gặp được nhiều bà con, bạn bè gốc ở Huế, mà đi tập kết về lại miền Nam. Vào năm 1979-80, ngay sau khi xảy ra cuộc chiến tranh với Trung cộng và Khmer Đỏ, thì anh Tấn kể lại với tôi, đại khái như sau: “ Mấy bà con thân tình của tôi thì tâm sự rằng: Vào thời kỳ 1950-70, chúng tôi ở miền Bắc, thì cứ nghĩ là suốt cuộc đời mình cũng sẽ không thể thấy được có sự thay đổi chuyển biến trong chế độ cộng sản đâu. Thế nhưng, kể từ ngày xảy ra chiến tranh với Trung quốc và với Cambodia vốn đều là cộng sản với nhau cả, thì chúng ta có quyền tin tưởng rằng ngay trong thế hệ của chúng mình, chế độ cộng sản này cũng sẽ tàn lụi, xụp đổ đi mà thôi. Điều này là khẳng định, giúp ta có quyền lạc quan, phấn khởi trước tương lai tốt đẹp cho thế hệ con cháu chúng mình đấy…”


Và rồi sự việc cứ liên tục dồn dập xảy ra, như ta đã thấy, việc quân đội Liên Xô bị sa lầy ở Afganistan, chế độ cộng sản Việt nam bị cả thế giới lên án vì xua quân chiếm đóng Cambodia, sự mâu thuẫn chia rẽ trầm trọng giữa hai đàn anh Liên Xô và Trung quốc v.v.., đã khiến cho thế giới cộng sản nứt rạn và đưa đến sự xụp đổ không thể nào cứu vãn được nữa kể từ 1989 ở Đông Âu, rồi đến chính Liên Xô bị giải thể tan rã năm 1991. Và để bám víu vào quyền hành, cộng sản Hanoi đã phải nuốt nhục đi năn nỉ xuống nước với “kẻ thù là bá quyền nước lớn phương bắc” tại Bắc kinh, để cầu mong sự bảo bọc che chở cuả bậc đàn anh, mà vẫn còn xưng mình là theo chủ nghĩa cộng sản. Đây là nguyên do chính yếu tại sao Hanoi đã phải nhượng đất, nhượng biển cho Trung quốc, chịu để mất Hòang Sa, Trừơng Sa về tay kẻ thù truyền kiếp từ phương Bắc. Rõ rệt là giới lãnh đạo cộng sản ở Hanoi đã và đang thực hiện cái chính sách “Thà mất nước, chứ không thà mất đảng”, miễn sao họ vẫn giữ được đặc quyền, đặc lợi cho bè lũ “mafia đỏ” cuả mình mà thôi. Vết nhơ “bán nước cầu vinh” này cuả đảng cộng sản liệu có bao giờ tảy xóa gột rửa đi hết được?!

Còn về đối nội, thì họ đã thẳng tay trù dập mọi sự khiếu nại, chống đối cuả cả triệu người dân oan bị mất nhà, mất đất, cuả những người tranh đấu bất bạo động cho dân chủ, nhân quyền, bắt bỏ tù những người đòi công bằng xã hội, đòi hỏi tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do lập hội v.v…, như Linh mục Nguyễn văn Lý, Luật sư Lê thị Công Nhân, Nguyễn văn Đài v.v…Việc đàn áp tàn bạo này đã bị tòan thế giới lên án, và đòi hỏi chính quyền Hanoi phải thực thi những cam kết về tôn trọng nhân quyền, về tự do dân chủ, khi tham gia hội nhập với thế giới văn minh hiện đại.

Mặt khác, tình trạng tham nhũng, thối nát trong hàng ngũ cán bộ cấp cao đã bị phơi bày rõ rệt trên công luận thế giới; cụ thể như vụ ăn hôí lộ PMU18, PCI lên đến nhiều triệu dollar, khiến đưa đến việc chính phủ Nhật bản phải cắt viện trợ ODA. Việc buôn lậu sừng tê giác cuả nhân viên ngoại giao trong sứ quán ở Phi châu, vụ nhân viên Vietnam Airlines gom góp chuyên chở đồ hàng ăn cắp tại Nhật …, khiến cho công luận tại nước này coi nhân viên Việt nam là “thứ giòi bọ”. Thật là một sự điếm nhục cho cả một dân tộc vốn tự hào là có trên 4000 năm văn hiến!

Cái thảm trạng trên đất nước ta như thế, xét cho cùng, thì chỉ có một nguyên nhân chính yếu, sâu xa nhất, đó là do sự tham lam quyền bính, sự giả hình dối trá cuả giới lãnh đạo thượng tầng cuả đảng cộng sản mà ra cả. Đây rõ rệt là tình trạng “ Nhà dột từ nóc”, “Thượng bất chánh, hạ tắc loạn”, từ cấp trung ương là Bộ chính trị, Ban Chấp hành Trung ương cuả đảng cộng sản, xuống cho đến cấp tỉnh, cấp huyện, tới tận cấp xã thôn hẻo lánh. Tất cả đều lừa gạt, dối trá mà lại kênh kiệu hách dịch, cửa quyền đối với tầng lớp người dân thấp cổ bé miệng, thân cô thế cô. Cho nên, ta phải dứt khóat đồng thuận với lập trường cuả Boris Eltsin, vị Cưụ Tổng Thống nước Nga là: “Chế độ cộng sản không thể sửa đổi được, mà chỉ còn có mỗi một cách, đó là phải thay thế nó đi mà thôi”. Không thể nào mà dân tộc Việt nam chúng ta cứ còn dung dưỡng mãi cái khối ung thư tai quái này, nó đã tàn phá cơ thể đất nước và dân tộc ta liên tục ròng rã suốt từ mấy thế hệ nay. Và đã đến lúc, lớp người thế hệ chúng ta phải nhất loạt đứng lên để mà cùng nhau “Đập tan tành cái nỗi ô nhục đó đi”, đúng như lời kêu gọi cuả văn hào Voltaire nước Pháp cách nay đã trên 250 năm: “Écrasez cet infâme!”

Tôi vốn là người lạc quan, bình tĩnh. Tôi thật lòng tin tưởng rằng: “Nhất định là Nhân nghiã sẽ thắng hung tàn” và “ Tình thương rồi sẽ xóa thù hận”. Và như vậy, tôi luôn luôn tâm nguyện rằng: Sẽ cố gắng hết sức mình để cùng góp phần vào công cuộc “Xây dựng Xã hội Dân sự “ nhằm tạo được cái thế “Đối trọng” (Counterbalance), bắt buộc được Nhà nước chuyên chế toàn trị, phi nhân mà người cộng sản đã du nhập từ nước ngoài vào nước ta từ bấy lâu nay, thì nhất quyết là chế độ tàn bạo ác nhân, ác đức đó phải nhường bước cho một chế độ nhân bản và nhân áí theo đúng với truyền thống tốt đẹp ngàn đời cuả cha ông chúng ta đã để lại cho thế hệ ngày nay.

Và sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn anh bạn thân thiết ở Saigon về lời khích lệ đã ghi ở trên: “ Anh phải ráng mà sống, để còn chứng kiến sự xụp đổ cuả đế quốc đỏ”.

Nhất định là chẳng bao lâu nữa, thế hệ chúng ta sẽ được chứng kiến cái sự tiêu vong triệt hạ hết cái lòng hận thù, cái thể chế bạo lực, cái sự lừa lọc dối trá, mà vốn đã từng gây ra bao nhiêu tang thương, đổ vỡ trong nội bộ đại gia đình dân tộc Việt nam chúng ta từ trên 60 năm qua. Và thay vào đó, chúng ta sẽ cùng với nhau ra tay vun đắp cho được một đất nước, mà mọi người đều thương yêu quý trọng bảo bọc lẫn nhau, bao dung tha thứ cho những sơ suất, lỗi lầm do sự yếu đuối sa ngã cuả mỗi cá nhân trong cộng đồng dân tộc, vốn đều cùng chung một nguồn gốc là “Con Hồng Cháu Lạc” tất cả.

Đó là cách thức tốt đẹp và phải chăng nhất, để chúng ta có thể đền ơn đáp nghiã đối với dân tộc đã từng cưu mang, nuôi nấng chăm sóc tận tình chu đáo cho mỗi con người chúng ta, từ lúc khởi sự chào đời cho đến tận ngày hôm nay.

Và đây cũng là cách thức chúng ta biểu lộ tấm lòng yêu thương lẫn nhau, vì cùng với nhau chúng ta nhằm về một phương hướng chung, đó là chăm lo cho hạnh phúc cuả đồng bào, đặc biệt là cho những thành phần kém may mắn nhất (the most underpriviledged) trong cộng đồng dân tộc. Như hồi xưa cách nay đã 40 năm, chúng ta đã cùng say sưa ca hát với nhau:

“Người con gái Việt nam da vàng… Yêu quê hương, nên yêu người yếu kém”.

Đây chính là lúc chúng ta có điều kiện bày tỏ tấm lòng yêu thương quý mến dân tộc mình bằng hành động cụ thể, mà lại rất ư là thiết thực vậy đó./

California, Đầu năm 2009

Đòan Thanh Liêm

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.