Hôm nay,  

Sống Đắc Thắng

26/07/201400:02:00(Xem: 5721)
Chúng ta được kêu gọi hãy sống đắc thắng nhưng đa số chúng ta thất bại không thể sống đắc thắng được. Chúng ta tự biết mình không có sự đắc thắng trong đời sống. Trở ngại lớn nhất của Cơ Đốc Nhân là sống đắc thắng trong Đấng Christ. Chính tôi cũng trăn trở về vấn đề này. Thất bại, vấp phạm, rồi thành công và tiếp theo đó là thất bại. Cuộc đời theo Chúa là theo sự sáng, nhận được quyền năng, được báp-tem trong Thánh Linh nhưng tại sao vẫn là một Cơ Đốc Nhân nửa thắng nửa bại?

Chúa nói trong Ma-thi-ơ chương 13 về vấn đề này. Chúa nói có ba loại hạt giống gieo xuống đất nhưng hạt giống vẫn còn nguyên không nảy mầm để trở thành cây lúa. Tại sao vậy?

Thứ nhất, người nghe đạo nước thiên đường mà không hiểu nên quỷ dữ đến cướp điều đã gieo. Đó là những hạt giống rơi ra dọc đường.

Thứ hai, người nghe đạo liền vui mừng nhận lấy nhưng chỉ tạm thời mà thôi vì khi gặp cực khổ, khi gặp những thử thách trong cuộc đời thì thất bại, không vượt qua được. Đó là những hạt giống rơi vào nơi đất đá sỏi.

Thứ ba, người nghe đạo thì nhận lấy nhưng vì quá lo lắng về đời này, vì mê đắm của cải vật chất làm cho nghẹt ngòi đạo. Đi theo Chúa nhiều năm nhưng vẫn dậm chân tại chỗ. Đó là những hạt giống rơi nơi bụi gai nên không phát triển được.

Chúng ta phải nhận thức rằng ơn phước của Đức Chúa Trời ban cho con người căn cứ trên một điều kiện. Người đó phải khao khát. Ngài ban cho kẻ đói đầy thức ăn, còn kẻ giàu về tay không (Luca 1:53). Nếu không khao khát, chúng ta không thể trông mong nhận được một điều gì từ nơi Đức Chúa Trời, và chính chúng ta cũng không có một sự mong ước thánh hóa nào trong đời sống thì làm sao mà Đức Chúa Trời ban cho.

Sự ban phước và ân điển của Đức Chúa Trời chỉ dành cho người nào có lòng khát khao Chúa, nếu không, những người này đi theo Chúa nhiều năm nhưng vẫn dậm chân tại chỗ. Câu chuyện ba người bạn của Daniel bị quăng vào lò lửa hực, họ nói với Vua Nê-bu-cát-nết-sa rằng “Đức Chúa Trời mà chúng tôi hầu việc chắc có thể cứu chúng tôi. Dầu chẳng vậy, xin biết rằng chúng tôi không hầu việc các thần của vua và không thờ phượng pho tượng vàng mà vua đã dựng. (Daniel 3:17-18). Nhóm chữ “dầu chẳng vậy” nói lên tấm lòng khao khát tuyệt đối Đức Chúa Trời của họ. Họ liều mạng sống mình mà không sợ chết. Đức Chúa Trời không thể làm gì khác hơn là ban phước cho họ. Đức Chúa Trời luôn bày tỏ chính Ngài cho những ai có lòng khao khát. Dấu kỳ phép lạ luôn đến với những tấm lòng khao khát đó và đã xảy ra khắp nơi trên thế giới.


Tôi cố học và qua các tài liệu của các vị tiền bối để lại, tôi nhận ra rằng “không phải tôi sống mà Đấng Christ sống trong tôi”. Tôi đọc đi đọc lại và suy gẫm, sau đó thực hành. Có những tội lỗi gắn liền với đời sống tôi gần 70 năm, hôm nay mới tháo gỡ được. Không phải tôi tháo gỡ mà tôi đầu hàng. Tôi không cần phải phân biệt đúng sai, tốt xấu, thiện ác; tôi cứ cầu nguyện Chúa cứu tôi mà thôi. Nếu tư tưởng sai trái hiện ra, tôi cứ để vậy, vì xua đuổi vẫn không kết quả. Tôi giao những vấp phạm mà nó trở thành đồn lũy trong tôi cho Chúa. Những tội lỗi đó là những tội lỗi trong tư tưởng, nó sống với tôi gần một đời người, cứ thỉnh thoảng lại hiện lên không diệt được.

Thế rồi bỗng nhiên một hôm, tư tưởng phạm tội đó không còn xuất hiện nữa. Tôi hơi nghi ngờ. Để biết chắc, tôi test lại. Tôi cố phạm tội bằng tư tưởng trở lại, nhưng dù tôi cố giữ tư tưởng phạm tội trong trí tôi, tôi không làm sao giữ được. Nó bay đi mất.

Cái khó là làm sao để bản ngã của mình qua một bên và để Chúa giải quyết vấn đề cho mình. Tôi biết một tín đồ không thể bỏ thuốc được, anh bỏ nhiều lần nhưng vẫn hút lại. Anh chán nãn, cầu nguyện Chúa vẫn không kết quả. Một hôm đầy tớ Chúa tới giảng, anh trình bày tình trạng của anh. Vị đầy tớ Chúa nói: Bây giờ tôi cầu nguyện Chúa cho anh nếu anh thật sự đầu hàng để Chúa cứu anh. Anh đồng ý và cầu nguyện. Sau khi cầu nguyện xong, anh ra về nhưng hỏi vị đầy tớ Chúa, nếu về nhà tôi thèm hút, tôi hút lại có được không. Vị này nói, nếu thèm, anh cứ hút.

Ba tháng sau vị đầy tớ Chúa gặp lại anh và hỏi anh còn hút thuốc không. Anh này trả lời: Tôi có hút lại nhưng đắng quá, hút không được. Chính câu chuyện này đã giúp tôi đắc thắng được vì tôi đã chết, nay tôi còn sống, là Chúa sống thay tôi. Hãy thử đi, hãy phấn đấu để chết phần bản ngã của mình thì sẽ nhận lại sự ban phước của Chúa. Tạ ơn Chúa, chúc các bạn thành công. Ê-phê-sô 4:22-24 chép: Rằng anh em phải bỏ cách ăn nết ở ngày trước, thoát lớp người cũ là người bị hư hỏng bởi tư dục dỗ dành mà phải làm nên mới trong tâm chí mình mà mặc lấy người mới tức là người đã được dựng nên giống như Đức Chúa Trời, trong sự công bình và sự thánh sạch của lẽ thật.

Mục Sư Lê Hữu Đức

Hội Thánh Phúc Âm Little Saigon

14642 Bushard St., Westminster, CA 92683

Tel.: (714) 657-9726; (714) 603-4481.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.