Hôm nay,  

Những Pho Tượng Lặng Thinh, Chờ Đợi.…

3/11/201400:00:00(View: 7096)
Tôi có đọc một bản tin trên mạng, tác giả là Julia O’Malley, viết về một pho tượng Thích Ca, đá trắng.

Theo bài viết, pho tượng được người cựu chiến binh, tên Suel Jones tìm thấy giữa cảnh hoang tàn đổ nát tại Ngũ Hành Sơn. Ngay khi thoạt nhìn thấy pho tượng, Suel đã cảm nhận có điều gì đó gần gũi, gắn bó giữa pho tượng với ông. Và Suel đã không thể quay lưng bỏ đi. Nụ cười từ bi, dáng ngồi an nhiên tĩnh lặng là thông điệp tuyệt vời của tình thương trước bao tàn phá khôn cùng của chiến tranh và lòng thù hận.

Suel đã bỏ ra 500 đô-la để mua pho tượng, và còn phải bỏ gấp đôi số tiền này để gửi tượng về Alaska bằng tầu thủy. Ông dự định dùng pho tượng để trang trí khu vườn nơi ông có căn nhà nhỏ tại thành phố Glacier View, cách Anchorage khoảng một trăm dặm. Ông đã lái chiếc xe tải nhỏ ra bến cảng, khi tượng về tới. Pho tượng được ông nai nịt cẩn thận sau xe, và trên đường về Anchorage, khi dừng ở đèn đỏ, hoặc trạm xăng, ai thấy cũng đến gần để xem cho rõ, và ai cũng muốn sờ tay vào pho tượng. Ông cũng dừng lại trước tiệm cà phê Side Street, nơi chủ nhân đã trở thành bạn từ hơn hai mươi năm qua. Có lẽ vì thấy tượng quá đẹp nên bạn ông đã đề nghị nên để tượng ở góc quán, nhiều người thấy, sẽ có thể bán được, rồi Suel dùng tiền đó, về Việt Nam làm từ thiện, như ông đã từng, từ bao năm nay. Như thế đúng với ý nghĩa và tấm lòng của Suel hơn là để tượng ở góc vườn nhà mà mỗi năm Suel đều vắng mặt sáu tháng, khi về Việt Nam làm từ thiện.

Thế là pho tượng Thích Ca đá trắng được an vị ở một góc, tiệm cà phê. Ngày qua ngày, không ai hỏi mua nhưng chủ quán cũng như bao nhiêu khách dừng chân đều thấy như tượng Phật là một thành phần trong đời sống mình. Họ chia sẻ với nhau như thế.

Rồi một ngày, có người lên tiếng hỏi mua tượng. Chưa biết cuộc mua bán ra sao, nhưng đám khách quen đã bùi ngùi truyền tai nhau là sẽ không còn được thấy Ông Phật đẹp đẽ này khi đến uống cà phê nữa!

Niềm xôn xao của họ không lâu thì một hôm, có ông khách đến uống cà phê, xong khi ra trả tiền thì không như bình thường, mà ông ta rút ra ba ngàn đô-la, nói với bà chủ tiệm là ông muốn mua pho tượng với điều kiện là “Ông Phật” sẽ ở lại trong quán, đúng vị trí này!

Và như thế, pho tượng Thích Ca bằng đá trắng vẫn lặng thinh ngồi nơi quán cà phê, một tỉnh nhỏ, nơi có những tấm lòng, chưa từng là Phật tử, chưa từng biết đọc một câu kinh, một tiếng kệ, mà đã được an ủi biết bao khi chiêm ngưỡng Phật.

Phải chăng, Phật thấu rõ lòng người nên đã tạo nhân duyên để có thể đáp ứng bao tấm lòng kính quý này? Vậy thì, đâu có cần thiết là tượng Phật phải ở nơi đài cao điện sáng, nơi đô thị phồn hoa đông đảo người lễ lạy. Phật tới những nơi có người chờ đợi và sẽ độ cho những ai mong được độ.

Hôm nay, vừa đúng một tháng tôi lên ngôi chùa hoang vắng. Thời khóa tự đặt ra, hai mươi bốn giờ mỗi ngày chia đều: ¼ tọa thiền, ¼ tụng kinh, niệm Phật, lạy Phật, kinh hành; ¼ nấu nướng, dọn dẹp, ngủ nghỉ, ¼ học nội điển, đọc sách hoặc viết lách.

blank
Pho tượng vẫn lặng thinh, chờ đợi…

Thời khóa tự đặt nên cũng tự uyển chuyển theo mưa nắng, nhúc nhích thế nào, Phật không nói mà biết hết!

Trong phần tụng kinh, tôi cứ tuần tự mà tụng. Kinh ngắn thì hoàn kinh trong ngày, kinh dài thì qua tới hôm sau, hoặc hôm sau nữa. Phật lặng thinh nghe, tôi có chi mà vội vã!

Hôm nay, sau khi hoàn kinh Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh, tôi ngồi yên trên bồ đoàn, quán chiếu những trang kinh vừa tụng và đoạn kinh ở phẩm thứ hai đã trở lại ngay trong trí, trong đó có lời Đức Như Lai an ủi, ủy thác ngài Địa Tạng: “…Ta phân ra nhiều thân độ thoát những hạng chúng sanh mỗi mỗi sai khác. Hoặc hiện ra thân trai, hoặc hiện ra thân gái, hoặc hiện ra thân trời, rồng, hoặc hiện ra rừng, núi, sông, ngòi, ao, rạch, suối, làm lợi ích cho mọi người, để rồi độ họ được giải thoát … nhẫn đến hiện ra những thân Thanh Văn, La Hán, Bích Chi Phật và Bồ Tát để hóa độ chúng sanh, chớ chẳng phải chỉ có thân Phật hiện ra trước chúng thôi đâu!”

Quán chiếu đoạn kinh này đã khiến tôi chợt nhớ tới câu chuyện pho tượng Thích Ca bằng đá trắng và người cựu chiến binh từng tham chiến tại Việt Nam. Tôi bàng hoàng khi nghĩ rằng pho tượng Thích Ca đó chính là “Phật đã hiện ra thân Phật.”

Các bạn tôi ơi! Các bạn hãy ngẫm xem, điều chi khiến người cựu chiến binh tự phát nguyện dành nửa thời gian mỗi năm của đời mình để quay về nơi chốn ông đã từng tham chiến mà làm công tác từ thiện? Điều chi khiến ông nhìn thấy dung nhan tôn tượng là lập tức bị thu hút tới mức phải bỏ tiền bạc, công sức để thỉnh về? Điều chi khiến những khách hàng của một quán cà phê tỉnh nhỏ đã quyến luyến kính yêu tượng Phật, dù đó chỉ là tượng đá? Điều chi khiến một người bình thường đã lặng lẽ có một thái độ phi thường là bỏ tiền mua tượng với điều kiện tượng không dời đi đâu, hầu còn mãi là niềm an ủi cho bao người đang lo buồn sẽ không còn được thấy “Ông Phật” nữa?!

Có phải, ở nơi đó, Phật đã hiện ra thân Phật để hóa độ chúng sanh? Ban cho người một nụ cười, ban cho người một niềm tin, ban cho người sự bình an hỷ lạc chẳng là đang Bố Thí Ba La Mật ư? Và người nhận Bố Thí Ba La Mật chẳng là đã từng gieo hạt giống Như Lai để rồi sẽ nhận ra Pháp Thí ư?

Trên khắp đại địa này, còn bao nơi chốn đơn sơ hẻo lánh, Phật đã hóa thân mà chúng sanh chưa đủ duyên nhận ra để được hóa độ? Trong hang sâu núi thẳm, chốn rừng rậm sông dài, có chăng những pho tượng vẫn lặng thinh, chờ đợi, để độ những kẻ đáng độ, để dắt xuống thuyền, những kẻ muốn qua sông …

Chiều nay, trên đường thiền hành, tôi đã bước chậm hơn, mỗi khi đi ngang qua tôn tượng. Tượng Quán Thế Âm giữa hồ sen, tượng Địa Tạng Bồ Tát đối diện gác chuông, tượng Đức Thế Tôn chuyển pháp luân lần đầu cho ngũ huynh đệ Kiều Trần Như, tượng Đức Phật Đản sanh bước bảy bước hoa sen, Tượng Ngài Di Lạc đùa vui cùng trẻ nhỏ, tượng Đức Phật Thích Ca ngồi thinh lặng trước rừng thông…

Những tôn tượng uy nghi đẹp đẽ này đã lặng thinh ngồi đây hơn mười năm.

Hơn mười năm, bao người đã đến, rồi đi, mà không mang lại cho nơi này một không khí thiền môn đích thực! Tại sao vậy? Có lẽ chỉ Chư Phật thấu biết, nên Chư Phật vẫn ngồi yên, vẫn lặng thinh chờ đợi ….

Tim tôi bỗng đập loạn nhịp!

Tôi cực kỳ rúng động khi như nghe đâu đây vang lên tiếng gọi thẳm sâu tận đáy lòng. Tiếng gọi đó âm vang, lập đi lập lại như dội từ lòng núi:

“Tăng thân! Tăng thân! Tăng thân!”

Trời ơi! Phải chăng hơn mười năm, “Phật hóa hiện thân Phật” nơi này để chờ đợi một tăng thân, vì nơi này đang có bao người đáng được độ?

Sức mỗi cá nhân e chưa đủ! Phải là năng lượng của tăng thân mới có thể chuyển hóa nơi vắng vẻ này thành chốn thiền môn tu học, mang lợi ích lại cho người, cho đời.

Và những pho tượng vẫn lặng thinh, chờ đợi …

Hạnh Chi
(Thiên Di Am, Bedford, Kentucky)

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.