Hôm nay,  

“From Your Valentine...”

12/02/201400:00:00(Xem: 7994)
Suốt năm viết về tình yêu vì tôi nghĩ đó là một trong những hiện tượng đẹp nhất của đời người, chẳng lẽ đến “Ngày Tình Yêu” tôi lại không viết dòng chữ bầy tỏ đôi lời!

Xã hội Tây phương nơi chúng ta đang sống, mỗi năm có St. Valentine’s Day. Đối với người Á Đông, cõi lòng thường là chốn xa xăm, không dễ dàng thổ lộ tình yêu mà ngược lại còn hay âm thầm dấu kín nên khi xưa tôi chẳng thấy ai ca tụng “Ngày Tình Yêu” trên quê hương mình. Thời gian qua đi, mọi vật chuyển đổi và bây giờ đã khác, dường như cái ngày “nồng cháy” ấy bỗng nhiên trở thành phong trào khắp nơi trên quả địa cầu.

Buổi chiều sau công việc, ung dung ngồi lái xe về nhà chợt thấy nắng vàng nhạt trên đường phố, không gì hạnh phúc hơn khi ta biết có ai đó đang tựa cửa chờ chia sẻ tâm tình bên bữa cơm chiều... Chắc hẳn nhiều người cũng thấy sự nồng nàn yêu thương ấy không mua, không bán mà đáng quý biết chừng nào? Chúc các bạn tìm được niềm vui... cảm thấy tim đập mạnh cho tình thêm sâu, lòng thêm háo hức suốt cả buổi mong mỏi đợi chờ vì “Valentine’s Day” năm nay rơi đúng vào ngày thứ sáu nên mọi người vẫn phải đi làm như thường lệ. Tuy nhiên sau “đêm tình yêu” chuẩn bị theo dự tính lại còn thêm 2 ngày cuối tuần nghỉ ngơi tha hồ mà tiếp tục âu yếm tỏ tình. Xin chớ đừng “vội vàng” như Xuân Diệu:

Tôi muốn tắt nắng đi
Cho mầu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
Mau đi thôi mầu chưa ngả chiều hôm
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân

Tình yêu không có định nghĩa, tùy cảm xúc của người đối diện nhưng trong mọi trường hợp, lòng thành thật là căn bản vì cần thiết để tình yêu trưởng thành. Dối trá mang thời gian tính, không sớm thì muộn sẽ đẩy tình yêu vào vũng lầy và nhận chìm tất cả những ngày hoa mộng.

Có người hỏi tại sao tôi hay viết về tình vợ chồng lãng mạn khi tuổi đã xế chiều? Theo họ, cảm xúc trong suy nghĩ của tôi có nhiều điều không thích hợp hay nói trắng ra là thiếu thực tế! Văn chương ấy chỉ để đọc cho vui vì buổi chiều hoàng hôn chẳng thể nào lẫn lộn với ánh nắng bình minh đầu ngày...

Sau 20 - 30 năm hạnh phúc, sống nửa đời rồi thế mà vợ chồng ly dị lại thường hay sẩy đến... Lý do thì vô vàn dẫn đến cảnh tan nát cô đơn, mỗi tình một cảnh và khi hết yêu rồi thì “tình nghĩa đôi ta có thế thôi!”. Nhiều thuyền tình không rời bến vẫn cố gieo neo chốn cũ nhưng đêm ngày hằn học nhìn nhau chán ngán, nước cạn lửa tắt, lạnh lùng bên trong lạnh lẽo bên ngoài! Ngược lại, cũng có kẻ tha thiết muốn sống mối tình già tràn ngập yêu thương cho đến cuối đời. Hãy thử xem họ có nhiều chọn lựa để đạt niềm mong ước đó không?


Có lẽ ngoài những tình huống đặc biệt riêng lẻ, chúng ta chỉ thấy con đường một chiều duy nhất, đó là sự bảo trì theo kế hoạch... Tựa như mọi vật trên thế gian, tình yêu cũng cần sự chăm sóc định kỳ tỷ dụ một buổi chiều nào tức cảnh sinh tình, chàng và nàng cùng thổi oxy vào lò sưởi tình yêu làm bừng lên ngọn lửa ấm hay rủ nhau đến một nơi vắng vẻ hẹn hò yêu đương như muốn sống lại kỷ niệm những ngày xưa. Do cá tính của con người, tính chất lãng mạn thường xa vời thực tế nhưng chính nó lại mang hương hoa tô điểm cho tình yêu mỗi khi xuất hiện. Nếu vợ chồng ý thức được sự phong phú cần thiết ấy thì “hoa nở tung cánh” ví von như mối tình già cũng sẽ khó tàn, hương sắc còn phảng phất mỗi lúc mỗi nơi.

Hôm nọ, trên đường về nhà nghe đài phát thanh có ông bác sĩ thú y ra câu đố có thưởng: “Theo bạn màu tình yêu là màu gì?”. Người thì nói màu xanh hy vọng, kẻ bảo màu đỏ vì máu đỏ chẩy về tim nhưng câu trả lời đúng ý ông ta nhất là “mầu nho” vì đọc lái thành “mò nhau”. Yêu nhau thì dĩ nhiên là phải “mò nhau”, không “mò” không được! Tình yêu trong tâm hồn, tình dục ngoài thể chất, hai cái tình ấy chẳng thể nào xa nhau sống riêng lẻ dù còn trẻ hay đã già! Trẻ thì từng bữa, già mỗi tuần, mỗi tháng? Nếu mỗi năm thì nên xét lại chuyện định kỳ hoặc có bóng dáng của hồng nhan tri kỷ đâu đó mất rồi? Hoàn cảnh sẽ khó khăn, phức tạp hơn nhiều...

Để bảo trì tình yêu, vợ chồng phải trao đổi ái ngữ. Đó là điều kiện ắt có tối thiểu trong quan hệ vợ chồng bởi vì lời yêu thương có sức chuyển đổi tâm trạng người nghe và cả người nói từ đó sự cảm thông sẽ tiến đạt dễ dàng. Ấy cũng là phương cách tỏ sự tương kính đối với nhau.

Và cuối cùng, “Tôi muốn bảo cùng em, có những gì trong lòng không nói được thì em ơi, xin hãy lặng yên vì quanh đây, còn bao nhiêu những nỗi muộn phiền...”. Đây là lời khuyên ở đoạn cuối trong bài hát “Tôi Muốn Hỏi Tại Sao?” của nhạc sĩ Diệu Hương. Tôi không nghĩ thế! Sự yên lặng chỉ tạm gác vấn đề qua một bên, nó có sẵn âm thanh tàn phá và sẽ trở thành bom nổ chậm vào thời gian sau đó vì thế chúng ta nên nói cho nhau nghe “những gì trong lòng không nói được” bằng lời yêu thương tâm tình ngay chính trong “Ngày Tình Yêu” thứ sáu cuối tuần này.

Cao Đắc Vinh

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.