Hôm nay,  

Oriana Fallaci Gặp Đại tướng Giáp

03/11/201300:00:00(Xem: 7885)
Nữ ký giả người Ý Oriana Fallaci nổi tiếng từ cuối thập niên 1960 với những bài phỏng vấn lãnh đạo các quốc gia như: Indira Gandhi, Willy Brandt, Robert Kennedy, Đặng Tiểu Bình, Golda Meir, Yasir Arafat, Ali Bhutto, Henry Kissinger, Nguyễn Văn Thiệu, v.v…

Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã dành cho Fallaci một cuộc phỏng vấn tại Hà Nội vào tháng 2-1969, khi cuộc chiến Việt Nam ở vào cao điểm với sự can dự của người Mỹ lên đến hơn nửa triệu lính đang chiến đấu tại Việt Nam. Đó cũng là thời điểm một năm sau cuộc Tổng Tấn công Tết Mậu Thân và hòa đàm Paris đang diễn ra.

Trong tác phẩm Interview with History (Nxb Liveright, 1976) Fallaci đã viết về lần gặp Tướng Giáp với nhiều chi tiết đáng chú ý.

Theo giới chức Việt Nam sắp xếp cho cuộc gặp thì đây là buổi mạn đàm với Tướng Giáp, không phải một cuộc phỏng vấn. Khi Fallaci và phái đoàn được gặp, Tướng Giáp không muốn người nữ ký giả dùng máy ghi âm. Ông cũng nói: “Đây chỉ là cuộc mạn đàm giữa chúng ta”.

Buổi gặp kéo dài 45 phút, Tướng Giáp nói tiếng Pháp. Là một ký giả với tay nghề cao, Fallaci đã biến “buổi diễn thuyết” của ông thành cuộc phỏng vấn. Có những lần nữ ký giả muốn ngắt lời để hỏi sâu thêm thì Tướng Giáp trả lời: “Hãy Kiên nhẫn. Đừng ngắt lời tôi”.

Ký giả Fallaci đến Hà Nội cùng với ba phụ nữ Ý khác, trong đó hai người thuộc Đảng Cộng sản và một theo Đảng Xã hội. Yêu cầu gặp Tướng Giáp chỉ được chấp thuận lúc họ sắp rời Việt Nam. Ngoài bốn phụ nữ Ý, trong buổi gặp còn có người hướng dẫn, thông dịch và vài nhân viên người Việt khác.

Những phát biểu chính của Tướng Giáp trong cuộc gặp đó như sau:

Số thương vong của Mỹ, Tướng Giáp nói đã tiêu diệt được 54 nghìn, vượt quá con số lính Mỹ hy sinh trong chiến tranh Triều Tiên, người nữ ký giả đặt vấn đề.

Oriana Fallaci: Con số người Mỹ đưa ra là 34 nghìn tử vong, thưa Đại tướng.

Võ Nguyên Giáp: Tôi nói ít nhất là gấp đôi. Người Mỹ luôn đưa ra con số thấp hơn sự thực: khi chúng thích hợp với họ, ba thay vì năm. Họ không thể đã có 34 nghìn tử vong. Khi mà chúng tôi đã bắn hạ hơn 3 nghìn 200 máy bay của họ. Khi mà họ thừa nhận rằng cứ 5 máy bay đã có một bị bắn rớt! Nhìn xem: trong năm năm chiến tranh họ chắc chắn đã mất không ít hơn 70 nghìn lính. Và con số đó có lẽ còn quá thấp.
buivanphu-20131101-tuonggiaporianafallaci-vb-h01-biasach
Bìa sách Interview with History.

OF: Thưa Đại tướng, người Mỹ cũng nói rằng ông đã mất nửa triệu quân.

VNG: Con số chính xác.

Về Tết Mậu Thân, nhận định của Tướng Giáp là trước khi có biến cố này thì người Mỹ tin là họ đang thắng. Cuộc tổng tấn công xảy ra là điều cho thấy Lực lượng Giải phóng có thể tấn công bất cứ khi nào họ muốn và vào bất cứ đâu, kể cả Sài Gòn.

OF: Thưa Đại tướng. Mọi người đồng ý Tổng Tấn công Tết là thắng lợi tâm lý to lớn. Nhưng từ góc nhìn quân sự, ông có nghĩ đó là một thất bại?

VNG: Thất bại?

OF: Tôi cho là như thế, thưa Đại tướng.

VNG: Bà hãy nói điều này với, hay nên hỏi, Mặt trận Giải phóng.

OF: Trước hết tôi muốn hỏi Đại tướng.

VNG: Bà phải hiểu đó là một câu hỏi tế nhị, mà tôi không thể đưa ra những phán đoán, tôi không thể xen vào việc của Mặt trận. Đó là điều tế nhị… rất tế nhị… Dù sao, bà đã làm tôi ngạc nhiên, vì cả thế giới đã thừa nhận rằng, nhìn từ quan điểm quân sự và chính trị, Tổng Tấn công Tết…


OF: Thưa Đại tướng, ngay cả nhìn từ quan điểm chính trị, đó không phải là một thắng lợi to lớn. Dân chúng đã không nổi dậy, và sau hai tuần người Mỹ đã giành lại kiểm soát. Chỉ ở Huế chúng ta đã thấy cuộc chiến kéo dài một tháng. Tại Huế, nơi có bộ đội miền Bắc.

VNG: Tôi không biết nếu Mặt trận đã có tiên liệu hay mong đợi dân nổi dậy, mặc dù tôi nghĩ rằng nếu không có giúp đỡ của quần chúng thì các lực lượng của Mặt trận sẽ không thể vào thành phố. Và tôi sẽ không bàn về Tổng Tấn công Tết, nó không tùy thuộc vào tôi, không tùy thuộc vào chúng tôi; nó được chỉ đạo bởi Mặt trận…

Trận chiến tại Khe Sanh, Tướng Giáp không coi đó là một Điện Biên Phủ thứ hai. Đối với ông Khe Sanh không quá quan trọng.

Về hòa đàm Paris, nhận định của Tướng Giáp là sẽ kéo dài lâu. Miền Bắc sẽ không từ bỏ những đòi hỏi và sẽ không vội, sẽ kiên nhẫn. Trong khi những phái đoàn thảo luận ở Paris, chúng tôi tiếp tục chiến tranh. Bắc Việt muốn người Mỹ rút hết khỏi Việt Nam. Ông nói: “Bất cứ thoả hiệp nào đều là đe dọa của sự nô lệ. Chúng tôi thà chết chứ không làm nô lệ.”

Khi hỏi sẽ kéo dài chiến tranh đến bao lâu, Tướng Giáp trả lời: “Kéo dài nếu cần. 10, 15, 20, 50 năm. Cho đến khi đạt thắng lợi toàn vẹn, như Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng tôi đã nói. Đúng vậy. Cho dù 20 năm, ngay cả 50 năm! Chúng tôi không vội. Chúng tôi không sợ.”

Sau khi đoàn phụ nữ Ý được Đại tướng Giáp tiếp, về khách sạn họ chép lại chi tiết những gì đã ghi được trong buổi gặp gỡ.

Điều lý thú là ngày hôm sau, An The, người phụ nữ Việt hướng dẫn phái đoàn, đã đến khách sạn và đưa cho Oriana Fallaci ba trang giấy mỏng đánh máy bài trả lời của Tướng Giáp. An The nói đây là văn bản chính thức nội dung cuộc nói chuyện của Tướng Giáp ngày hôm qua, chỉ những gì trong đó mới là phát biểu của Tướng Giáp tại buổi gặp.

Theo ký giả Fallaci nội dung trong những trang giấy đó khác với những gì bà đã nghe được vào chiều hôm qua.

Fallaci viết: “Không có câu trả lời của ông về Tổng Tấn công Tết, không có câu trả lời về hoà đàm Paris và ngay cả về việc chấm dứt chiến tranh. Không có gì ngoài một loạt những câu nói mơ hồ, hoa mỹ - hay nhất chỉ có trong một buổi mít tinh chính trị.”

Về Ý, Fallaci phổ biến cuộc phỏng vấn như đã ghi được, chứ không phải văn bản từ phía Việt Nam đưa cho.

Bà viết trong sách Inteview with History: “Giáp không bao giờ tha thứ cho tôi, và những người Bắc Việt đã cho tôi vi-sa thì càng không. Độc lập trong nhận định, như chúng ta biết, là một mẫu mực đạo đức mà nhiều người cộng sản không thích. Họ chỉ thích nó trong những trường hợp mà bạn được ra đề tài để viết những gì có lợi cho họ.”

Sau khi nội dung cuộc phỏng vấn được phổ biến, giới lãnh đạo Bắc Việt đã sỉ nhục Fallaci, gọi bà bằng những cái tên ngu xuẩn, gán ghép cho bà là người của CIA.

44 năm đã qua, đọc lại câu chuyện Oriana Fallaci gặp Đại tướng Giáp, rồi nghĩ đến những phát biểu của giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam hiện nay, cũng như trong quá khứ, và cả những văn bản họ để lại, không biết trong đó chứa đựng được bao nhiêu sự thực.

© 2013 Buivanphu.wordpress.com

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.