Hôm nay,  

Nhân Cách Lớn

29/10/201300:00:00(Xem: 8173)
Phải đến tận nơi để thấy một nửa Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan lọt thỏm vào bên trong biên giới của nước láng giềng, được thắm thiết gọi là đồng chí Trung Quốc. Người cựu chiến binh Điếu Cày Nguyễn Văn Hải góp một thời tuổi trẻ để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ tổ quốc, đã không ngăn được phẫn nộ của một công dân có ý thức trách nhiệm khi thấy một phần xương thịt, một địa danh vang danh lịch sử Việt Nam nằm trong tay giặc và người cựu chiến binh Nguyễn Văn Hải không ngần ngại dấn thân, vươn mình xốc tới biến phẫn nộ thành hành động cụ thể, vận động quần chúng chống giặc xâm lược Phương Bắc, đòi lại chủ quyền tổ Quốc.

Phải đến tận vùng quê nghèo Hậu lộc, Thanh Hóa để nghe những người Mẹ, người Vợ, người con có người thân yêu vĩnh viễn ở lại biển không về, mới cảm nhận được nỗi đau, nỗi nhục bị “tàu lạ” đuổi giết, bắt đòi tiền chuộc trên ngư trường của tổ tiên khiến cho Phạm Thanh Nghiên, một cô gái nhỏ về thể hình nhưng có trái tim lớn, chứa chan tình nghĩa đồng bào, bước qua nỗi sợ, tọa kháng tại gia khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, đòi lại vùng biển, trời của tổ quốc.

Phải vào khu công nghiệp tận mắt chứng kiến đời sống của người công nhân, để thấy môi trường làm việc tồi tệ, thiếu điều kiện an toàn tối thiểu, để nghe những đối xử bất công, chửi bới, phạt vạ vô lý, vi phạm nghiêm trọng nhân phẩm, nhân quyền của anh, chị, em cùng chung bọc Mẹ trong các xí nghiệp có chủ nhân nước ngoài, nhưng nhà nước cứ dửng dưng không có động thái bênh vực, bảo vệ. Ở nơi làm việc đó, có nhiều công nhân ngất xỉu, chết lúc làm việc trong thời gian dài cứ tiếp tục diễn ra, không có hướng giải quyết tích cực, không có dấu hiệu chỉnh sửa cho tốt hơn nên ba người bạn trẻ Đổ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương đã nhập cuộc đấu tranh cho quyền lợi của đồng bào mình cũng như không thể nhắm mắt làm ngơ ngồi yên cho ngoại nhân xúc phạm, rẻ khinh danh dự dân tộc.

Hành động kiên cường, quyết liệt của Nguyễn Văn Hải, Phạm Thanh Nghiên, Đổ Thị Minh Hạnh... rất trong sáng, minh bạch, không có động lực nào đủ sức mạnh thúc đẩy họ dấn thân cho lẽ phải, công bằng, cho đất nước dân tộc ngoài lòng yêu nước, ý thức dân tộc, niềm tự hào dân tộc bị tổn thương, khi ngoại nhân cướp đất, cướp biển, ra vào ngênh ngang coi khinh, hạ nhục đồng bào mình trên đất nước mình. Thế mà bị nhốt tù, bị giam cầm chỉ vì dám đứng lên bảo vệ chủ quyền đất liền, biển đảo, bênh vực đồng bào lao động trong các xí nghiệp như lời khẳng định dân tộc Việt Nam không hèn nhược với bất cứ kẻ thù nào, bất cứ ai từ đâu đến.

Nhà nước bạo ngược này, dù trấn áp tàn độc, đàn áp dã man, nuôi dưỡng kẻ thủ ác vẫn không ngăn được lòng dũng cảm của những người con bất khuất của tổ quốc Việt Nam. Thời gian qua, tiếp theo bước chân Hải, Nghiên, Hạnh nhiều nhân sĩ, trí thức, văn nhân, nghệ sĩ, thanh niên sinh viên, học sinh, công nhân, nông dân và đại diện mọi tầng lớp xã hội, vượt qua nỗi sợ hãi xuống đường biểu tình thể hiện lòng yêu nước, chống giặc bành trướng Phương Bắc. Tuy nhiên, đó chỉ là phần mặt nổi của tảng băng chìm, còn nhiều rất nhiều Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Uất Ức Biển Ta Ơi Phạm Thanh Nghiên, Anh Thư Đỗ Thị Minh Hạnh... âm thầm góp phần nhỏ cho đại cuộc, còn ẩn mình trong lòng dân tộc Việt Nam, sẳn sàng hy sinh xương máu cho ngày hội lớn của dân tộc chưa lộ diện.

Cộng sản Việt Nam càng hung hăng bắt giam, kết án, cầm tù người yêu nước khác chính kiến qua các bản án bỏ túi bất công, chỉ làm hiển lộ bản chất phản động, bán nước, tay sai của chế độ chứ không quay ngược được bước phát triển, tiến hoá của lịch sử loài người. Mới đây với hành động lùng bắt các thanh niên công giáo tùy tiện như xã hội đen bắt cóc người, bất chấp luật pháp chỉ khiến cho người yêu nước, đối kháng với chế độ dũng cảm, quyết tâm hơn trong đấu tranh mưu tìm tự do, hạnh phúc cho dân, cho nước.

Lãnh đạo nhà nước cộng sản nên biết rằng xiềng xích, trấn áp, khủng bố bằng sức mạnh bạo lực của thời đại Mao-Hồ, không phải là giải pháp tối ưu cho ổn định phát triển của thời nay. Lịch sử đã sang trang, lịch sử đã chứng minh bạo lực sẽ gọi mời bạo lực, nợ máu phải trả bằng máu, chỉ có thật lòng đối thoại, hòa giải yêu thương trong tinh thần anh em, đồng bào mới thật sự là giải pháp tối ưu cho ổn định phát triển đất nước lâu dài. Tại sao nhân loại ngày càng văn minh, giải quyết tranh chấp bất đồng chính kiến trong hoà bình mà cộng sản Việt Nam mãi đắm chìm trong mông muội, tiếp tục dấn sâu vào tội ác, tiếp tục vung tay thấm nhuộm máu đồng bào?


Nhà cầm quyền có biết, những cá nhân bị bắt giam kết án tù vì tội vi phạm an ninh quốc gia, phỉ báng, xuyên tạc, nói xấu đảng, nhà nước CHXHCN Việt Nam trong quá khứ cũng như hiện tại, có phải họ có tội?

Thiết nghĩ, nhà nước đương quyền cần bình tâm, tỉnh táo để nhận thấy những cá nhân bị quy chụp là thế lực thù địch, phản động thật ra họ là tinh hoa, thành phần ưu tú của dân tộc, đi trước thời cuộc có ý thức trách nhiệm cao đối với Tổ Quốc. Những gì họ quyết liệt lên tiếng đấu tranh từ nhiều năm trước dần hiện rõ, dần xảy ra trên đất nước, trong chế độ này. Ngày nay mọi người đều nhìn thấy nó đã hiển hiện: giặc ngoài âm mưu thôn tính, xâm phạm lãnh hải, đe dọa độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; thù trong tiếp tay cho giặc ngoài chiếm giữ vị trí chiến lược liên quan, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh quốc phòng và gian thương, tài phiệt nước ngoài cấu kết với quan tham ức hiếp nhân dân lao động là nguy cơ ngoại thuộc có thật, cho đất nước Việt Nam.

Viễn cảnh xấu, tồi tệ này đã được những người con ưu tú của Mẹ Việt Nam cảnh báo từ nhiều năm trước. Thế thì những lời tiên báo về hiểm họa ngoại xâm, lời bênh vực đồng bào, bảo vệ danh dự dân tộc của Nguyễn Văn Hải, Phạm Thanh Nghiên, Đổ Thị Minh Hạnh... có phải là tội vi phạm an ninh quốc gia, tuyên truyền xuyên tạc, nói xấu đảng, nhà nước?

Thật lòng mà nói, đối với đảng, nhà nước cộng sản này cần gì phải phỉ báng, xuyên tạc, nói xấu chỉ cần nói lên sự thật đã, đang hiện hữu, xảy ra trong thực tiển cuộc sống đời thường của chế độ, cũng đủ gây bất ngờ, ngạc nhiên lẫn kinh tởm cho những ai chưa từng sống trong, cùng những công dân sống an bình trong các nước dân chủ tiên tiến. Bởi tự bản chất của nó là dã man, tàn độc, gian trá vượt ngoài tầm hiểu biết cũng như suy nghĩ của con người bình thường!

Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Uất ức Biển Ta ơi Phạm Thanh Nghiên, Anh thư Đổ Minh Hạnh... cần gì phải xuyên tạc, nói xấu. Họ chỉ nói lên sự thật, họ thể hiện tinh thần trách nhiệm, ý thức dân tộc đối với tổ quốc, với đồng bào ruột thịt của mình, chống lại thế lực bành trướng, chống lại ngoại nhân xúc phạm danh dự, sỉ nhục dân tộc Việt Nam và không hề cố ý lột tả trần trụi bộ mặt nhớp nhúa phản dân hại nước của nhà nước CHXHCN Việt Nam bởi chính nó đã ghê tởm, không cần cường điệu phỉ báng hay xuyên tạc!

Hải, Nghiên, Hạnh... cũng không hề vi phạm an ninh quốc gia như toà án kết tội, chính đảng cộng sản là kẻ khuấy động, gieo mầm hổn loạn, rước giặc vào nhà xâm phạm an ninh quốc gia, thông qua các thỏa thuận chung của hai đảng cộng sản Việt-Trung và sự cấu kết của đám tham quan ngu tối với gian thương, tài phiệt nước ngoài, chứ không ai khác!

Khoa học kỹ thuật giúp thế giới thay đổi. Tư duy, nhận thức của con người cũng đã thay đổi nhờ phương tiện kỹ thuật thông tin hiện đại, lột trần gian manh dối trá, bưng bít bóp nghẹt thông tin của các chế độ độc tài bạo ngược còn sót lại trong đời sống loài người.

Đảng cộng sản Việt Nam không thể đi ngược giòng lịch sử để sống trong ánh hào quang không có thật của đảng quang vinh, Hồ Chí Minh vĩ đại và chủ nghĩa Marx-Lenin bách chiến, bách thắng! Những thứ hào quang “quang vinh, vĩ đại” đã lộ nguyên hình là tuyên truyền dối trá, là bạo lực khủng bố phi nhân tính, được xây dựng trên nền xương trắng, máu đào của dân lành vô tội, là đồng bào Việt Nam.

Đảng cộng sản Việt Nam đã gây nhiều tội ác với dân tộc Việt Nam, tội lớn nhất là gieo trồng, nuôi dưỡng, sản sinh con người mới xã hội chủ nghĩa hèn nhược, độc ác, dã man phi nhân tính và cũng chính nó hủy diệt tinh thần dũng cảm, bất khuất, hào hùng cùng nhân cách lớn của nòi Việt.

May mắn thay trong cuộc truy cùng diệt tận đẩm máu của loài cộng nô hơn nửa thế kỷ qua, vẫn còn Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Uất Ức Biển Ta Ơi Phạm Thanh Nghiên, Anh Thư Đổ Thị Minh Hạnh...đại diện điển hình của nhân cách lớn đầu đội trời chân đạp đất của giống giòng Đại Việt. Nhân cách lớn không thể thiếu, nhân cách lớn đã từng hiện hữu trong giòng lịch sử dựng nước, mở nước, giữ nước, cứu nước của dân tộc Việt Nam. Ngày hôm nay nhân cách lớn còn nguyên giá trị, vẫn là hình mẫu lý tưởng, là nhân tố chính viết nên trang sử mới cho đất nước Việt Nam. Chúng ta đã có đủ chưa- Nhân Cách Lớn!?

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.