Hôm nay,  

Khủng Hoảng Và Chính Sách Chuyển Trục

17/10/201300:00:00(Xem: 5123)
Tháng 11-2012 Do Thái tấn công Hezbollah 4 ngày trước cuộc họp Thượng Đỉnh ASEAN lần thứ 21 tại Cam Bốt. Báo chí Hoa Kỳ đăng tít lớn về tình hình chiến sự khiến chuyến đi của Tổng Thống Obama sang vùng Thái Bình Dương bị mờ nhạt, và Ngoại Trưởng Clinton phải gấp rút rời Đông Nam Á để tìm một giải pháp hòa bình ở Trung Đông.

Tháng 10-2013 Tổng Thống Obama lại phải huỷ bỏ kế hoạch tham dự Hội Nghi Thượng Đỉnh APEC và Đông Á bởi khủng hoảng ngân sách nhà nước và mức trần nợ công.

Các cuộc khủng hoảng xảy ra liên tiếp vào mỗi dịp họp Thượng Đỉnh khiến các nước vùng Đông Nam Á quan ngại liệu Hoa Kỳ có đủ quyết tâm và năng lực để chuyển trọng tâm sang vùng Thái Bình Dương trong hoàn cảnh chính trị nội bộ chia rẻ và ngành ngoại giao tiếp tục bị cuốn hút vào khu vực Trung Đông: nền an ninh của Do Thái, khủng bố Hồi Giáo, nội loạn tại Ai Cập - Syrie, hậu quả của Mùa Xuân Ả Rập và chính sách đối với Iran.

Những quốc gia không dính líu trực tiếp hay không có tranh chấp tức thời với Trung Quốc đã trải thảm đỏ để tiếp đón các nhà lãnh đạo Bắc Kinh: Indonesia ký hợp tác thương mại lên đến 30 tỷ USD; Mã Lai nâng tầm liên hệ với Hoa Lục lên đối tác chiến lược toàn diện; Thủ Tướng Lý Khắc Cường được trao vinh dự hy hữu phát biểu trước Quốc Hội Thái Lan.

Những tuyên bố của Ngoại Trưởng Kerry rằng Hoa Kỳ không hề thay đổi lập trường đối với vùng Đông Nam Á trở nên chiếu lệ và thiếu thuyết phục vì không có hành động cụ thể đi kèm, nhất là khi nhiều quan sát viên đã nhận xét chính ông Kerry am hiểu tình hình Âu Châu và Trung Đông nhiều hơn đối với Á Châu.

Trước đó Bộ Trưởng Quốc Phòng Chuck Hagel đã công du nhưng chỉ sang Đông Bắc Á nhằm thắc chặt quan hệ quân sự với Nhật Bản và Nam Hàn tức hai đồng minh cột trụ mà Hoa Kỳ không thể bỏ quên. Nên nhớ rằng ông Hagel chỉ là một Bộ Trưởng Quốc Phòng yếu, vì mới hồi tháng 01-2013 ông suýt bị Quốc Hội đánh văng khỏi chức vụ bởi vài lời tuyên bố không có lợi cho Do Thái khi ông còn là Thượng Nghị Sĩ.

Ai cũng biết muốn phá vỡ một chính sách chiến lược không lúc nào bằng giai đoạn phôi thai khi các nước liên minh còn chưa tin cậy lẫn nhau, vào lúc ngân sách cùng nhân sự chưa bén rể nên còn thiếu tổ chức chu đáo.

Âu Châu và Do Thái là hai đồng minh lâu đời nhất của Hoa Kỳ chẳng những không xem Trung Quốc như mối đe doạ chiến lược (do khoảng cách địa lý quá xa) nhưng trái lại đây còn là đối tác kinh tế đầy triển vọng, cho nên các thế lực này không hề muốn thấy căng thẳng Mỹ-Trung làm ảnh hưởng đến thương mại toàn cầu. Việc Hoa Kỳ can thiệp vào tranh chấp biển Đông chẳng những không cần thiết mà còn tổn hại đến quyền lợi của họ.

Còn về quốc phòng Hải và Không quân Mỹ hậu thuẩn chính sách chuyển trọng tâm sang Thái Bình Dương do tăng thêm ngân sách (trong hoàn cảnh kinh tế vô cùng khó khăn) trong lúc Lục Quân sẽ bị cắt giảm mất ưu tiên như trong thời gian chiến tranh Iraq và Afghanistan. Các chuyên viên hàng đầu trong ngành ngoại giao cũng phải thăm dò liệu chính sách chuyển trục có giữ được mối quan tâm ở cấp bực cao nhất (tức là Tổng Thống và Bộ Trưởng) trước khi họ tìm thay đổi nhiệm sở sang Á Châu.

Cho nên chính sách đối với Đông Nam Á chỉ vừa xúc tiến đã gặp quá nhiều trở ngại nhất là chỉ trong hai năm nửa ông Obama sẽ trở thành "vịt què" (lame duck president) do không thể tiến hành một kế hoạch quan trọng nào mới vì sắp mãn nhiệm kỳ. Kế tiếp ngoại trừ trường hợp bà Clinton đắc cử Tổng Thống thì không có một chính trị gia hàng đầu nào của Mỹ hiện tỏ vẻ sốt sắng với chiến lược chuyển trục sang Thái Bình Dương.

Trước những dấu hiệu như vậy các nước Phi Luật Tân và Việt Nam vốn chịu áp lực trực tiếp từ Trung Quốc không khỏi xét lại những phương án hiện thời: hoặc nhân nhượng để chấp nhận thua thiệt đối với Hoa Lục; hay quyết tâm bảo vệ lập trường cho dù đơn độc; hoặc tìm thêm hậu thuẩn từ Úc, Ấn Độ và Nhật Bản nhằm quốc tế hoá tranh chấp khu vực.

Riêng có thêm một chọn lựa khác bắt nguồn từ Do Thái: mỗi khi người Do Thái nhận xét rằng Mỹ tỏ thái độ do dự ở Trung Đông thì họ không ngần ngại khuấy động một cuộc khủng hoảng lớn để kéo lại sự chú ý của dư luận, báo giới và các chính khách Hoa Kỳ - với đe doạ là khủng hoảng có thể lan tràn ra khắp khu vực. Biện pháp này chẳng khác gì trong gia đình hay hãng xưởng đối với những người lớn miệng mồm lại nhận được nhiều quan tâm nhất.

Hoa Kỳ là siêu cường quốc tế nên lúc nào cũng bị chi phối từ nhiều mặt: khủng hoảng kinh tế Âu Châu; các vấn đề của Iran, Syrie, Ai Cập, Pakistan, Afghanistan, Bắc Hàn; quan hệ với Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan, cùng nhiều vấn đề nội bộ khác. Phương án để Mỹ không quên lảng đối với biển Đông là khuấy động một cuộc khủng hoảng có chừng mực để chính quyền và dân chúng Hoa Kỳ cùng các đồng minh giật mình rằng nền an ninh và tự do hàng hải khu vực thật sự bị gián đoạn chớ không chỉ là giả thuyết.

Dĩ nhiên trong vai trò lãnh đạo đất nước thì phải vô cùng cẩn trọng vì đây là trò chơi với lửa, hoặc tệ hại hơn nửa có thể bị xem như đem vận mệnh của dân tộc đi đánh cuộc. Riêng trường hợp Do Thái có hai điểm mạnh mà Việt-Phi thiếu: một là ưu thế tuyệt đối về quân sự trong khu vực, và hai là hậu thuẩn hành lang rất mạnh trong chính trường Hoa Kỳ.

Nhưng không nên bỏ qua phương án tính toán này để khi đến lúc ngồi trên lửa thì không còn chọn lựa mà phải chơi với lửa - hoặc như chính Đặng Tiểu Bình đã nói trong thời kỳ tranh chấp Nga Hoa: có dám sờ đuôi cọp mới biết cọp giấy.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.