Hôm nay,  

Tướng Giáp, Tướng Về Hưu

12/10/201300:00:00(Xem: 9977)
Hai thập niên qua, câu chuyện chiến tranh Việt Nam không còn là đề tài được truyền thông Mỹ nhắc nhiều đến nữa.

Từ năm 1995, khi hai cựu thù địch nối lại quan hệ thì phát triển thương mại và những quan tâm chung của hai nước được bàn thảo nhiều hơn là quá khứ bom đạn. Cuộc chiến Việt Nam đối với người Mỹ đã lùi vào dĩ vãng.

Cho đến cuối tuần qua. Khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời thì không thể không nhắc lại cuộc chiến, vì Tướng Giáp đã có được huyền thoại là người đánh bại đế quốc Mỹ năm 1975. Hai mươi năm trước đó tên tuổi ông gắn liền với chiến thắng Điện Biên Phủ, đuổi thực dân Pháp ra khỏi Việt Nam.

Nhắc đến cuộc chiến tranh thì lòng người lại phân chia, giữa người Mỹ với nhau cũng như giữa người Việt với người Việt.

Bài viết của Thượng Nghị sĩ John McCain, cựu tù Hỏa Lò, trên Wall Street Journal cho rằng Tướng Giáp thắng vì không quan tâm đến con số binh lính phải hy sinh đã có hơn 500 ý kiến bênh chống. Bài viết này tóm lược trên VOA tiếng Việt và nhiều bài khác về Tướng Giáp cũng đã nhận được vài trăm ý kiến. Trên BBC và RFA Việt ngữ cũng có hàng trăm góp ý cho những bài viết liên quan đến cuộc đời Tướng Giáp.

Nhưng ở California, thủ phủ của người Việt tị nạn cộng sản thì thật khó tìm ra một cựu sĩ quan Việt Nam Cộng hòa có lòng kính trọng Tướng Giáp, khi mà qua những thảo luận hay trò chuyện tôi chỉ nghe Điện Biên Phủ là nhờ cố vấn Trung Quốc, không có chuyện xe pháo tuột núi mà dân công đem thân vào chèn, không có chuyện Bắc Việt đánh bại Hoa Kỳ, Việt Cộng thắng vì Mỹ đã quyết định bỏ Việt Nam cho Trung Cộng.

Hơn nữa ở đây đã có tượng đài chiến sĩ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hoà giữa trung tâm quận Cam. San Jose có Bảo tàng Việt Nam Cộng hòa và Thuyền nhân, có kế hoạch xây đài tưởng niệm những vị chỉ huy quân sự của Việt Nam Cộng hoà đã tuẫn tiết như các tướng tá Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Văn Hưng, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Văn Long.

Trước cái chết của Tướng Giáp, truyền thông trong nước viết nhiều về cuộc đời và thành tích của ông. Suốt tuần qua, mỗi ngày đã có nhiều nghìn người đến viếng ông tại tư gia ở Hà Nội. Trang về Đại tướng Võ Nguyên Giáp do gia đình lập trên Facebook trong vài ngày qua đã có hơn 250 nghìn “Like”.

Trong khi đó báo chí Việt ngữ hải ngoại chỉ loan tin ông qua đời và có rất ít những bài viết hay bình luận về cuộc đời ông.

Những cái chết của lãnh đạo Việt Nam, của cả hai miền Nam và Bắc, không đem đến cho tôi nhiều xúc động. Có chăng là suy tư và hồi tưởng về một thời đã sống qua, nhìn vào hiện tại và nghĩ về tương lai nước Việt với trăn trở.

Khi ông Ngô Đình Diệm bị đảo chánh, rồi bị giết chết ngay, lúc đó tôi mới 8 tuổi và chỉ nghe loáng thoáng người trong khu xóm nói ông chưa chết mà đã được đưa ra nước ngoài. Người thân của tôi mang hy vọng ông còn sống và một ngày nào đó sẽ trở lại.

Ông Hồ Chí Minh mất năm 1969, tôi đã có những ký ức về chiến tranh. Mới hơn một năm trước là Tổng tấn công Mậu Thân, hai đợt, vào cuối tháng Giêng và đầu tháng Năm 1968.

Lúc đó chiến tranh đã tràn vào Thủ đô Sài Gòn. Lần đầu tiên người dân thành phố biết đến bom đạn và loạn lạc. Đêm nghe tiếng súng mà thom thóp lo. Nhà tôi ở gần phi trường Tân Sơn Nhất, là khu vực có giao tranh nên mẹ cũng đã chuẩn bị khăn gói cho các con và dặn nếu Việt Cộng tràn vào thì chạy lên trung tâm thành phố. Mẹ tôi đã bao lần chạy loạn từ quê lên Nam Định nên có kinh nghiệm gói ghém ít quần áo thành nải xách tay. Khu xóm đêm đêm có Nhân dân Tự vệ canh gác nhưng giấc ngủ không yên. Mẹ bảo hễ hàng xóm kêu chạy là ôm túi quần áo chạy.

Cũng may trận chiến chỉ kéo dài vài hôm rồi yên. Nhưng sau đó nhiều đêm phải giật mình vì Việt Cộng pháo kích vào thành phố. Tiếng hỏa tiễn 122 ly rít trong không khí, xé tan màn đêm yên tĩnh. Nổ ầm. Có hôm đạn rơi gần. Nổ rung cửa nhà. Người chết không toàn thây.

Sống ở miền Nam tôi nghe những cơ quan thông tin, báo chí tuyên truyền rằng Hồ Chí Minh làm tay sai cho Nga Tầu để thôn tính và nhuộm đỏ miền Nam.

Trong xóm ngõ tôi ở, có một bác tên là Hồ nhưng không ai dám gọi như thế cả.


Lớn lên theo chiến tranh, mỗi ngày nhìn xe tang với quan tài phủ cờ, nghe tiếng khóc của thân nhân mà lòng không khỏi xúc động. Rồi người thân, bạn bè hy sinh. Nhiều lần đưa tiễn tôi đã khóc.

Tôi nhận ra chiến tranh đem lại quá nhiều khổ đau, nhưng hiểu rõ được cuộc chiến không dễ. Ai muốn nhuộm đỏ Việt Nam. Ai theo chân đế quốc Mỹ. Để làm gì? Đất nước rồi sẽ đi về đâu khi mà thanh niên cứ phải ra chiến trường. Rồi một hôm “Anh trở về bại tướng cụt chân, anh trở về hòm gỗ cài hoa…” hay “Anh nằm xuống cho hận thù vào lãng quên…” như những lời ca vang vang xóm ngõ.

Ngày 27-1-1973 hòa bình đến. Tôi vui mừng. Sau nhận ra đó chỉ là thứ hòa bình giả tạo.

Cho đến 30-4-1975. Mừng chiến tranh chấm dứt nhưng lại buồn vì phải xa rời quê hương. Rồi thấy đất nước thống nhất nhưng lòng người vẫn không và hòa bình cũng chưa có.

Từ bên ngoài nhìn về Việt Nam hiểu biết được nhiều hơn. Những năm chiến tranh sôi động, báo chí miền Nam đưa tin Tướng Nguyễn Chí Thanh, Tướng Trần Độ chết tại chiến trường B như là những chiến tích của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa. Tin Tướng Giáp chủ trương Tổng tấn công Mậu Thân để rồi thất bại và bị mất chức. Nhưng đó không phải sự thực.

Tướng Giáp không đề xuất tấn công Mậu Thân 1968, cũng không phải là người phát động Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975.

Tướng Nguyễn Chí Thanh chết ở Hà Nội đang lúc cao điểm của cuộc chiến. Tướng Trần Độ vẫn sống sau chiến tranh, rồi lo văn hoá tư tưởng cho cả nước. Khi ông lên tiếng kêu gọi dân chủ hóa thì bị nhà nước trù dập. Ông mất, nhà nước ngăn cản nhiều người muốn đến phân ưu. Tướng Giáp gửi vòng hoa phúng điếu mà bị ban tổ chức cắt bỏ những lời kính viếng trân trọng.

Đã đọc nhật ký của Tướng Trần Độ, tôi cảm phục ông hơn Tướng Giáp; phục hơn cả Tướng Nguyễn Cao Kỳ, một thời là lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa mà tôi đã ngưỡng mộ khi còn là thiếu niên.

Nửa thế kỷ qua, bao nhiêu người cầm quyền trên đất nước đã ra đi: Ngô Đình Diệm, Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Dương Văn Minh, Lê Duẩn, Tôn Đức Thắng, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Khánh và giờ đây Võ Nguyên Giáp.

Họ để lại gì cho dân tộc ngoài nước Việt hiện tại, yếu kém về mọi mặt. Số phận đất nước cứ như thế mãi sao.

Cho đến nay giải mã cuộc chiến Việt Nam còn là một bài toán với nhiều ẩn số. Bao nhiêu tấn bom đạn, bao nhiêu xác người, bao nhiêu ruộng vườn, làng mạc bị thiêu hủy mà vẫn chưa tìm ra cách giải cho bài toán đã có đáp số: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.

Có người đưa giả định nếu Tướng Giáp đã không thắng Điện Biên Phủ, nếu không có chiến tranh Nam Bắc, không có Tết Mậu Thân. Có người nói giá như ông Diệm không bị lật đổ, không có lính Mỹ đổ bộ vào miền Nam; có người mong Bác Hồ còn sống, muốn quay trở lại với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Có người sợ bọn phản động khôi phục chế độ Việt Nam Cộng hòa.

Có người đã tiên đoán chỉ khi những lãnh đạo già nua, giáo điều của Việt Nam chết đi, khi đó đất nước mới vươn lên được.

Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Lê Đức Thọ, Lê Duẩn đã đi theo ông Hồ. Tướng Võ Nguyên Giáp, người sau cùng và là lãnh đạo quân sự cao cấp nhất trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ cũng vừa ra đi.

Ông là biểu tượng của nhiều người Việt Nam vì công lao giành độc lập cho đất nước.

Nhưng bi kịch là sau chiến tranh xã hội lại đầy những tham ô, bất công mà ông không làm gì được và rồi con cháu của ông cũng vào guồng. Ông chỉ như một “Tướng về hưu” mà nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã phác họa chân dung trong tiểu thuyết được dựng thành phim năm 1988.

Nghịch lý nữa là sau chiến tranh, con gái và cháu nội của Tướng Giáp lại theo học ở một đất nước từng là kẻ thù mà ông đã đánh bại. Đó là nước Mỹ.

Dịp Tướng Giáp thọ bách niên, viết về bi kịch hòa bình Việt Nam, tôi muốn hỏi ông về tên của các chị Võ Hạnh Phúc và Võ Hòa Bình mang những ý nghĩa thế nào.

Nay ông không còn. Nhưng tôi vẫn mong có dịp được nghe gia đình kể lại do đâu mà có tên của các anh chị Nguyên Anh, Điện Biên, Hồng Nam, Hạnh Phúc và Hòa Bình.

© 2013 Buivanphu.wordpress.com

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.