Hôm nay,  

Giảng Dạy Lớp Việt Ngữ Đặc Biệt: Hiểu Biết, Thương Yêu, Kiên Nhẫn

8/24/201300:00:00(View: 13568)
* Kính tặng quý Thầy Cô khoá TNSP 25, riêng tặng quý khoá sinh giờ “Pp dạy Lớp VNĐB” *

LỚP VIỆT NGỮ ĐẶC BIỆT (VNĐB)

Tại Khoá Huấn Luyện và Tu Nghiệp Sư Phạm Việt Ngữ thứ 25 (TNSP 25) do Ban Đại Diện các Trung Tâm Việt Ngữ tại miền Nam California tổ chức tại Trung Tâm Le-Jao, thành phố Westminser, giữa tháng 8 năm 2013, Ban Tổ Chức đã cho phép tôi chia sẻ kinh nghiệm và phương pháp dạy lớp VNĐB đến quý Thầy Cô tham dự. Tôi trình bày song song với Cô Trần Ngọc Sương, Hiệu trưởng của Trung Tâm Văn Hoá Việt Nam, thuộc thành phố Westminster.

Tôi xin ghi lại vài điểm chính của giờ học này để quý Thầy Cô Việt ngữ nào không có điều kiện dự khoá vì ở xa hay vì gia đình hữu sự, có thể tham khảo. Tôi chọn tựa đề cho phần trình bày của mình là “Giảng Dạy Lớp Đặc Biệt: Truyền Đạt Lòng Yêu Nước Việt, Tiếng Việt,” nhằm đi sát với Chủ đề chung của Khoá, “Sứ Mạng của Thầy Cô trong Công Cuộc Chống Ngoại Xâm.”

Nhưng trước hết, Lớp VNĐB là gì? Đối với tôi, đây là một lớp với học sinh thuộc nhiều trình độ, lứa tuổi, và nhu cầu khác nhau. Một số khoá sinh đã hỏi, và tôi dịch ra tiếng Anh là “Mixed-level Class.” Chữ “Đặc Biệt” rất dễ khiến nhiều người liên tưởng đến lớp “Special Ed” của trường công lập Mỹ, vốn dành riêng cho các em có một số tình trạng sức khoẻ đặc biệt. Do đó, chúng ta cần phân biệt rõ, lớp VNĐB hoàn toàn khác với “Special Ed” về thành phần học sinh. Tuy vậy, trong bất cứ lớp Việt Ngữ nào cũng có thể có những em học sinh có nhu cầu sức khoẻ đặc biệt như trong lớp “Special Ed,” và lớp VNĐB không chỉ dành riêng cho các em này như lớp Đặc Biệt tại các trường công.

HÔM NAY, TÔI ĐI HỌC…

Sau một đêm văn hoá mặn mà tại Nhà hàng Seafood I (và hy vọng một giấc ngủ ngon), quý Thầy Cô dự Khoá TNSP 25 đã thức dậy sớm để dự lớp đầu ngày lúc 8 giờ sáng Chúa Nhật.

Hôm đó, tuy vẫn còn là mùa hè, nhưng khi lái xe qua những phố xá còn rất vắng vẻ của Little Sàigòn phồn thịnh, tôi chợt nhớ đến bài văn tả cảnh mùa thu của Thanh Tịnh, trích từ tập Quê Mẹ, được xuất bản năm 1941 – một bài văn mà có lẽ nhiều người trong chúng ta đã thuộc nằm lòng. “Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.”

Buổi sáng mai hôm ấy, tôi cũng đi trên những con đường rất thân quen của Little Saigon, nhưng lần này, tự nhiên tôi thấy lạ, vì hôm ấy, tôi đi học, mà học đến mười lần, như người ta vẫn nói, dạy là học đến mười lần. Tuy không có Mẹ dắt tay, nhưng Mẹ tôi cũng là một nhà giáo, nên được đứng lớp với Cô Trần Ngọc Sương thuộc thế hệ của Mẹ mình, tôi cũng có cảm giác như có Mẹ bên cạnh. Cám ơn Cô Sương đã cho tôi cảm giác tuyệt vời đó.
tu_nghiep_su_pham_0_resized
Hình ảnh Khoá TNSP 25. (Photo Trangđài Glasssey-Trầnguyễn)
MỤC ĐÍCH TIÊN QUYẾT

Đối với tôi, mục đích tiên quyết của việc dạy Việt ngữ là truyền đạt lòng yêu nước cho các em, nhất là qua các bài hịch, bài lịch sử ngắn, gương anh hùng yêu nước xưa và nay, vv. Tuy những Thầy Cô dạy Việt ngữ không phải là những người hoạt động chính trị, nhưng trong tình cảnh đất nước nguy biến hiện nay, chúng ta không thể chỉ dạy tiếng Việt một cách vô nghĩa, mà cần hướng các em về một quê hương – tuy các em có thể chưa một lần trở về – nhưng vẫn là cội nguồn của chính các em và con cái các em sau này.

Theo tôi, đây là điểm mấu chốt cho việc duy trì văn hoá ngôn ngữ Việt tại hải ngoại: chính quý Thầy Cô cần có một niềm hãnh diện về nguồn gốc của mình, để có thể tưới tẩm giáo trình và bục giảng với chính nguồn nhiệt huyết đó. Khi các em đón nhận kiến thức và nhiệt huyết của quý Thầy Cô, các em sẽ thích thú hơn với lớp Việt ngữ mỗi tuần, và mong rằng, chính các em cũng sẽ làm cho nhiệt huyết đó lây lan trong công việc và đời sống của mình.

Chúng ta cần trang bị cho các thế hệ sau khả năng ngôn ngữ và văn hoá để tham gia vào cộng đồng nhà, tiếp tục phát triển cộng đồng, và tận dụng những thay đổi không ngừng này. Thời điểm tốt nhất để bắt đầu học một ngôn ngữ là từ trong bụng mẹ, nhưng cần phải có những chương trình huấn luyện ngay từ nhỏ, trãi dài suốt cho đến đại học và sau đó. Cộng đồng Việt hải ngoại ngày càng mở rộng, và đóng vai trò tiên quyết trong công cuộc tranh đấu cho nhân quyền, dân quyền, và chủ quyền lãnh thổ tại và của Việt Nam. Tiếng Việt chính là trung tâm điểm của sự phát triển và công cuộc đấu tranh này, vì mục đích tiên quyết trong việc dạy tiếng Việt là truyền đạt lòng yêu nước Việt, yêu văn hoá Việt.

Bên cạnh đó, quý Thầy Cô cần giúp các em phát triển khả năng ngôn ngữ và đào sâu lòng yêu nước, yêu ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam, hiểu biết về địa lý phong thổ quê hương. Vô tri bất mộ. Không biết thì không thể yêu. Khi các em hiểu biết sâu sắc về quê hương, văn hoá, dân tộc Việt Nam, các em sẽ có được một sự thông cảm lớn lao đối với cha mẹ, gia đình, và quê hương. Cám em sẽ nhận ra rằng, không chỉ có người Việt chúng ta quan tâm đến Việt Nam, mà cả thế giới cũng quý trọng và tìm hiểu về văn hoá lịch sử của chúng ta.

Hơn nữa, chúng ta cần đánh thức sự quan tâm của các em về những vấn đề quốc nạn hiện nay – Đường Lưỡi Bò, đô hộ văn hoá của Trung Quốc, ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, chúng ta cũng cần khơi dậy và củng cố sự hiểu biết của các em về những vấn đề quốc nạn hiện nay. Đại sứ David Shear đã nói trong cuộc họp báo ngay chính tại Trung Tâm này ngày mồng 1 tháng Sáu vừa qua, “Tiếng nói của cộng đồng người Mỹ gốc Việt hết sức mạnh mẽ. Chúng tôi lắng nghe quý vị từ Hà Nội, và người dân ở Việt Nam cũng lắng nghe tâm tư đó. Đây là điều rất quan trọng. Chúng tôi lắng nghe quý vị một cách rất nghiêm túc.”

Chính giới trẻ hải ngoại sẽ tạo ảnh hưởng quốc tế trên những thay đổi tại Việt Nam. Cộng đồng hải ngoại chính là nơi các em có thể tìm hiểu về những bất công, đen tối tại quê nhà, để các em có bệ phóng vững vàng, nhập cuộc trong sứ mạng dân chủ hoá đất nước và nâng cao đời sống của người dân.

VÀI PHƯƠNG PHÁP HỮU DỤNG

Việc đầu tiên quý Thầy Cô cần làm là định giá trình độ lớp học. Có một vài cách giúp chúng ta nhận định khả năng Việt ngữ của các em. Trong các lớp VNĐB, đa số các em đều ở tuổi đại học, nên khả năng tư duy của các em đã trưởng thành. Do đó, chúng ta không chỉ dạy ngôn ngữ ở trình độ căn bản, mà cần đào sâu về văn hoá, văn chương, lịch sử, và tình hình thời sự hiện nay cho các em.

Tôi may mắn có kinh nghiệm dạy lớp VNĐB tại Trường Việt ngữ Cộng đoàn Westminster ngay từ những năm 90s, do Thầy Vũ Hoàng làm hiệu trưởng. Từ năm 2008 đến nay, tôi còn may mắn hơn, được dạy lớp VNĐB tại gia. Lớp này “đặc biệt” hơn cả Đặc Biệt, vì chỉ có một học sinh, học 24/24, và học sinh này không phải là người Việt. Học sinh này ham học, hay hỏi, ngay cả giờ cơm cũng hỏi. Học sinh này không chịu gọi tôi là cô, vì là ông xã của tôi. Nên nếu quý Thầy Cô nào gặp thử thách khi phụ trách lớp Đặc Biệt, cứ nghĩ đến trường hợp của tôi thì sẽ thấy nhẹ người, vì ít ra, không phải trả lời những câu hỏi của học trò cả ngày cả đêm.


Sau đây là một vài cách để nhận định khả năng tiếng Việt của các em. Thứ nhất, là dựa theo học bạ của năm trước. Đối với các học sinh mới, quý Thầy Cô có thể cho các em viết một đoạn văn ngắn, đọc một bài thuộc lòng mà các em biết, đọc một bài văn từ sách giáo khoa và trả lời vài câu hỏi ngắn, hay chép một đoạn chính tả. Những trắc nghiệm này sẽ giúp Thầy Cô biết trình độ đọc, nói, viết của các em. Việc nhận định khả năng tiếng Việt của các em là yếu tố tiên quyết để quý Thầy Cô đứng lớp với hiệu quả tối ưu. Theo các nghiên cứu về sư phạm, cách dạy hiệu quả nhất là bắt đầu từ những kiến thức các em đã biết, để giúp các em tiếp nhận những điều chưa biết.
tu_nghiep_su_pham__1__resized
Hình ảnh Khoá TNSP 25. (Photo Trangđài Glasssey-Trầnguyễn)
Thứ hai, quý Thầy Cô có thể cùng học sinh vạch ra lộ trình cho niên khoá, nhất là một Dự án cho cả năm. Tuy Thầy Cô cần soạn giáo trình cho cả năm trước ngày khai giảng, nhưng vẫn có thể và nên kết hợp ý kiến của các em vào giáo trình đã chuẩn bị. Đây là một điều cần thiết và ích lợi. Thứ nhất, học sinh các lớp Đặc Biệt đã có khả năng tư duy trưởng thành, nên các em sẽ có những đóng góp hữu ích và thực tế cho chương trình học. Thứ hai, khi các em quan tâm đến một điều gì đó, các em sẽ thích học hơn và đầu tư vào việc học nhiều hơn. Thứ ba, việc Thầy Cô trưng cầu và kết hợp ý kiến của các em trong việc soạn giáo trình sẽ giúp các em có tinh thần suy nghĩ độc lập, gây hứng để các em sau này có thể tự mình tìm hiểu thêm các đề tài khác, dù có tiếp tục theo học các lớp Việt Ngữ hay không.

Quý Thầy Cô có thể đề ra nhiều dự án khác nhau, cũng như khuyến khích các em đưa ra những dự án thích hợp. Tuần trước, tôi vừa hướng dẫn nhiều lớp khác nhau trong khoá huấn luyện một tuần về văn hoá, lịch sử, và ngôn ngữ Việt Nam dành cho các Thầy Cô đang giảng dạy tại các trường công lập. Chương trình tu nghiệp tại chức này do Chương trình FIRST tại Cal State Fullerton thực hiện. 11 năm trước, năm 2002, tôi cũng đã giúp cố vấn và hướng dẫn nhiều phần trong Khoá này, khi đó kéo dài đến hai tuần.

Năm nay, tôi hướng dẫn ba phần: dân nhạc Việt Nam, thăm viếng và tìm hiểu Little Saigon, và cách sử dụng Lịch sử Truyền Khẩu cho các lớp thuộc cấp hai và cấp ba. Tôi đã gợi ý một số đề tài cho quý Thầy Cô tại Khoá học ở Fullerton, và tôi nghĩ, những đề tài này cũng thích hợp cho các lớp Việt ngữ Đặc Biệt. Một số Dự án hữu ích như: phỏng vấn cha mẹ về kinh nghiệm vượt biển và viết một bài tường thuật; tìm hiểu về một biến cố chính trong cuộc chiến Việt Nam (như Tết Mậu Thân, 30 tháng Tư) và viết một bài văn về biến cố đó; tìm hiểu về một khía cạnh văn hoá Việt Nam như ngày Tết và làm một áp-phích (poster) hay brochure để cả lớp cùng làm tài liệu; tìm hiểu về dân nhạc Việt Nam và cho thấy dân nhạc đã phản ánh địa lý, tâm lý, và triết lý Việt như thế nào; vv.

Tôi cũng xin quý Thầy Cô lưu ý một vài điểm, như tránh sử dụng từ ngữ sau 1975, chú trọng việc viết đúng chính tả, khuyến khích các em tham khảo với cha mẹ về những tài liệu thích hợp, tránh các trang mạng bị ảnh hưởng của Cộng Sản, vv. Trong quyển Đặc san Kỷ niệm 25 năm TNSP (ttvn.org, 714 799 0321) mà quý Thầy Cô nhận được khi nhập khoá, có bài “Đối chiếu tiếng Việt” trước và sau 1975, trang 26-29. Đây là một tài liệu rất quý giá cho tôi và những người thuộc thế hệ tôi trở đi. Tôi chào đời sau 30 tháng Tư 1975, nên tôi trong 19 năm ở Việt Nam, tôi đã học những từ ngữ hậu 1975, và là lớp đầu tiên phải học chương trình cải cách giáo dục. Đó là bất công lớn đối với tôi.

Tuy nhiên, tôi may mắn được đọc một số sách cũ còn sót lại từ thư quán mà ông bà Ngoại tôi kinh doanh trước 1975, và sách văn học và văn chương của ông tôi còn giấu lại. Cho nên ít nhiều, khi còn ở Việt Nam, tôi đã được hé mở cho một tiếng Việt không Cộng Sản, tuy rất giới hạn. Khi định cư tại Mỹ năm 1994, tôi đã cố gắng rất nhiều để học tiếng Việt, nhất là sửa lại những từ ngữ mà tôi đã bị nhồi sọ khi ở trong nước. Tôi vô cùng biết ơn những tác giả đã ghi lại sự thay đổi sau 1975, vì khi ở Việt Nam, tôi hoàn toàn không được biết những gì đã xảy ra trước khi tôi chào đời. Tác phẩm “Bụi và Rác” của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng ghi rõ những chữ đã bị đổi ngay sau 30 tháng Tư 1975, giúp tôi nhận diện những từ ngữ mà tôi không ngờ mình đã học sai. Đối với quý Thầy Cô thuộc thế hệ trước tôi, đây có lẽ không phải là một khó khăn. Nhưng đối với các bạn cùng tuổi hoặc trẻ hơn, tôi mời gọi các bạn lưu tâm đến việc sử dụng từ ngữ cho thích hợp, nhất là vì chúng ta đang dạy dỗ các thế hệ tương lai.

Tôi cũng đã giới thiệu quý Thầy Cô về trang mạng Du Ca và bài “Hãy Đến Cùng Chúng Tôi” của Nhạc sĩ Fa Thăng Nguyễn Quyết Thắng, tác phẩm “Chuyện Xa Gần” của nhà văn Nguyễn Ngọc Bảo, Quốc Văn Giáo Khoa Thư (QVGKT), và phim ngắn “Chạy trong cỏ cao” của Đạo diễn Vũ Duy Hảo. Một Thầy, tuy đã 75 tuổi, đã đứng lên và đọc làu làu bài “Xuân và Thu” từ QVGKT, khiến mọi người thích thú. Rất nhiều Thầy Cô muốn có thêm tài liệu để dạy lớp Đặc Biệt. Tôi cũng đưa ra nhiều phương pháp khác, nhưng không thể nói hết trong bài viết này. Xin phép trình bày đầy đủ hơn trong một dịp khác.

HIỂU BIẾT, THƯƠNG YÊU, KIÊN NHẪN

Rất nhiều quý Thầy Cô tham dự giờ “Phương pháp dạy lớp Đặc Biệt” tại Khoá TNSP 25 đã từng dạy lớp VNĐB và cả lớp “Special Ed” ở trường Mỹ. Quý Thầy Cô đã sẵn lòng đóng góp suy nghĩ và kinh nghiệm của mình, khiến cho giờ học thêm phong phú và hữu ích. Điều tôi cảm nhận rõ nhất là tình yêu thương của quý Thầy Cô dành cho các em, sự hết mình của họ đối với tiếng Việt và nước Việt.

Việc tham dự Khoá TNSP 25 chính là một bằng chứng cụ thể của sự hy sinh, dấn thân, tận hiến của quý Thầy Cô. Với lòng thiết tha học hỏi, Thầy Cô liên lỉ làm giàu sự hiểu biết của mình, giúp cho việc đứng lớp đạt hiệu quả cao. Mong rằng những kinh nghiệm được chia sẻ và phần trình bày của hai giảng viên sẽ giúp quý Thầy Cô nhận ra nhu cầu mọi mặt của các em, và đáp ứng những nhu cầu đó một cách thoả đáng.

Giáo dục là một thiên chức đòi hỏi sự kiên nhẫn và cảm thông. Cô Christine Phạm đã tươi cười kể với các khoá sinh trong lớp về việc xuất tiền túi để mua học cụ và tài liệu cho các em, một cách để thưởng và khuyến khích các em. Rất nhiều Thầy Cô Việt ngữ cũng giống như Cô Christine, mỗi cuối tuần lặn lội đến trường, kiên nhẫn đứng lớp, và giảng dạy trong yêu thương. Tôi thật sự đã học đến mười-lần-mười qua giờ “Phương pháp dạy lớp Đặc Biệt” khi tôi lắng nghe những chia sẻ quý báu của các Thầy Cô khoá sinh. Chính các Thầy Cô đã cho tôi một niềm tin rất lớn: rằng nước Việt sẽ mãi đứng vững, vì tiếng Việt sẽ mãi trường tồn nhờ vào những gương hy sinh như quý Thầy Cô.

Bài & hình: Trangđài Glasssey-Trầnguyễn

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.