Hôm nay,  

Nelson Mandela: Một Ngọn Hải Đăng

29/06/201300:00:00(Xem: 5089)
Nelson Mandela, nhà tranh đấu thành công bãi bỏ chế độ phân biệt chủng tộc apartheid ở Nam Phi đang hấp hối tại một bệnh viện ở thủ đô Pretoria. Mấy tháng gần đây ông ra vào khẩn cấp bệnh viện nhiều lần. Ngày 8 tháng 6 ông lại vào bệnh viện vì phổi bị nhiễm trùng và bệnh tình đang trở nên trầm trọng. Sáng Thứ Hai 24/6 Tổng thống Jacob Zuma vào thăm ông Mandela và sau đó nói với dân chúng Nam Phi rằng người anh hùng của đất nước tuổi đời đã cao, và điều tốt nhất là hãy cầu nguyện cho ông.

Các vị lãnh đạo trên thế giới đang chuẩn bị lịch trình đến Pretoria chào vị anh hùng Nam Phi lần cuối nếu mệnh Trời đòi hỏi ông phải ra đi. Tổng thống Barak Obama đang công du Phi Châu, theo chương trình sẽ dừng chân tại Petroria, nơi ông Mandela đang được chữa trị. Tuy nhiên, Tổng thống Obama có đích thân thăm ông Mandela ở bệnh viện không còn tùy tình trạng sức khỏe của ông Mandela và ý muốn của thân nhân. Trên đường từ Senegal đến Nam Phi, tổng thống Obama nói: “Không riêng tôi, mà ai cũng đều đồng ý rằng ông Nelson Mandela là một vị anh hùng thế giới.”

Ông Mandela năm nay 94 tuổi. Ông mang trong lồng ngực một quả tim nhân bản, quả cảm, yêu đời, yêu người, sống trọn tình nghĩa với đồng bào và đất nước, ông Mandela ra đi là một mất mát lớn không những cho nhân dân Nam Phi, mà là một mất mát lớn cho nhân loại như người đi biển bỗng mất một ngọn hải đăng.

Nam Phi, một nước rộng gần 4 lần diện tích Việt Nam nằm ở cực nam Phi châu do người Hòa Lan đến chiếm làm thuộc địa giữa thế kỷ 17. Đầu thế kỷ 20 người Anh đánh thắng người Hòa Lan và thành lập nước Nam Phi. Người gốc Hòa Lan tại Nam Phi được gọi là người Afrikaner. Năm 1948 người Anh thiết lập một chế độ kỳ thị chủng tộc phân chia đen trắng thành hai giai cấp quy định bằng luật gọi là chế độ “Apartheid”. Người đen không được sống chung đụng với người da trắng, và sống trong những khu riêng biệt gọi là các Townships.

Năm 1976 người đen tại các Townships đồng loạt nổi dậy dưới sự lãnh đạo của Đảng Quốc gia Phi châu (African National Congress – ANC) trong đó luật sư Nelson Mandela là một thành phần lãnh đạo chủ chốt .

Ông Nelson Mandela sinh ngày18 tháng 7 năm 1918 trong một gia đình vọng tộc thuộc bộ lạc Thembu. Ông học luật tại hai đại học Fort Hare và Witwatersrand. Trở thành luật sư ông sống và hành nghề tại Johannesbursg. Khoảng thập niên 1940 ông gia nhập đảng ANC, một đảng chính trị thoát thai từ Đảng Quốc Gia của Người Bản xứ (The South African Native National Congress) được thành lập từ năm 1912 khi người Hòa Lan còn áp dụng một chế độ thuộc địa cởi mở.

Sau khi người Anh thiết lập chế độ apartheid, năm 1952 ông Mandela cầm đầu cuộc đấu tranh chống chế độ kỳ thị bằng phương pháp bất bạo động. Sau đó ông đổi phương pháp hợp tác với đảng Cộng sản Nam Phi thành lập tổ chức Umkhonto we Sizwe, bạo động đánh bom các cơ sở của chính phủ. Năm 1962 ông bị bắt, bị truy tố về tội phá hoại và âm mưu lật đổ chính phủ và bị kết án chung thân.

Ông bị giam ở nhà tù trên đảo Robben, sau chuyển qua nhà tù Pollsmoor và Victor Verster. Do vận động quốc tế, năm 1990 ông được trả tự do sau 28 năm tù đày.

Ra khỏi nhà tù, năm 1991 ông được bầu làm Chủ tịch ANC, và với tư cách này ông kiên nhẫn thương thuyết với tổng thống F. W. de Klerk bãi bỏ chế độ Apartheid và tổ chức bầu cử đa chủng lần đầu tiên năm 1994. Đảng ANC thắng và ông Nelson Mandela trở thành vị tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi.

Ông làm tổng thống Nam Phi trong một nhiệm kỳ 5 năm (1994-1999). Trong nước ông thi hành một chính sách hòa giải chủng tộc giữa “người đen, trắng, Africaner, người Á châu …”, qua đó giải thể dần các định chế kỳ thị do chế độ apartheid để lại, giải quyết nạn nghèo đói (cho người da đen) và san bằng sự chênh lệch đời sống kinh tế trong xã hội. Thái độ đáng yêu của ông là khéo léo dùng thể thao tạo một bộ mặt đoàn kết đen trắng tại Nam Phi. Người Africaners gốc Hòa Lan thích Rugby, ông đã biến Rugby thành một phong trào toàn quốc giúp đoàn lực sĩ Nam Phi toàn người da trắng giật giải vô địch Rugby thế giới năm 1995.

Trên mặt quốc tế ông dùng uy tín giúp dàn xếp vụ án vụ nổ bom Pan Am Flight 103 giữa Anh và Lybia.

Mãn nhiệm tổng thống năm 1999 ông không ra tái ứng cử (dù sự đắc cử ông nắm trong tay) và dành thì giờ vào các công việc từ thiện. Ông thành lập Viện Nelson Mandela lo việc chống bệnh HIV/AIDS và nạn nghèo khó.

Ông Mandela chứng tỏ là một người có một tấm lòng khoan dung lớn và một cái nhìn rộng. Khi cầm quyền ông không biến 28 năm tù đày thành thù hận mà biến nó thành một tinh thần hòa giải, giúp mang lại sự ổn định quốc gia tránh một cuộc nội chiến chủng tộc và đóng góp không ít cho nền hòa bình thế giới. Mặc dù Nam Phi hôm nay vẫn còn là một xã hội nhiều giai cấp và bất công,(như vụ án nhà thể thao Oscar Pistorius bắn chết cô đào Reeva Steenkamp đang bày ra cho thế giới thấy (1) người ta tin rằng nếu không có ông Mandela, Nam Phi đã trở thành một xã hội băng hoại hơn.

Mặc dù đời sống chính trị và cá nhân của ông cũng có nhiều điểm để bàn tán như liên kết với đảng Cộng sản thời kỳ đấu tranh bạo động. Và khi cầm quyền không kềm chế nổi bà Winnie, vợ ông - tuy từng trung thành và chia sẻ gian lao với ông trong cuộc đấu tranh – lạm dụng chức vụ và uy tín của ông làm nhiều điều trái phép buộc ông li dị bà năm 1996.

Tuy nhiên không ai ngạc nhiên khi thấy ông Mandela được 250 giải thưởng quốc tế đủ loại trong đó có Huy Chương Tự Do của Tổng Thống Mỹ, Huy chương Lenin của Liên bang Xô viết và cao quý nhất là giải hòa bình Nobel năm 1993. Và “Phong Trào Không Liên Kết” (Non-Aligned Movement) bầu ông làm Tổng Thư ký Phong Trào nhiệm kỳ 1998-1999. Riêng với người Nam Phi ông Nelson Mandela xứng đáng là một vị “cha già dân tộc”.

Xin hãy cùng cầu nguyện cho ông!

Trần Bình Nam
June 28, 2013
[email protected]
www.tranbinhnam.com
(1) Xem www.tranbinhnam.com“Bình Luận” tài liệu số 467, hay link:
http://www.tranbinhnam.com/binhluan/NamPhi_Hau_Apartheid.html

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.