Hôm nay,  

Kinh Tế Trung Quốc Sắp Co Thắt?

29/05/201300:00:00(Xem: 13343)
Những bi quan sâu xa hơn một chỉ số PMI

Đúng 10 ngày sau khi Thủ tướng Lý Khắc Cường tuyên bố Trung Quốc sẽ vận dụng quy luật thị trường chứ không đưa ra biện pháp kích thích để nâng đà tăng trưởng, ngày 23/05/2013 hai doanh nghiệp Anh là ngân hàng Hong Kong Shanghai Bank – HSBC - và công ty tư vấn Markit Group đưa ra một kết quả khảo sát làm các thị trường Á Châu rồi toàn cầu tuột dốc. Đó là sau hai tháng sút giảm liên tục, chỉ số PMI trong Tháng Năm của Trung Quốc đã tuột xuống dưới mức 50, cụ thể là 49,60. Trong tháng Tư, chỉ số PMI này đã xuống 50,4, trong khi chỉ số tháng Ba là 51,6.

Đấy là chỉ dấu cho thấy kinh tế Trung Quốc có thể co cụm trong thời gian tới. Lập tức, các tổ hợp ngân hàng hay tập đoàn đầu tư quốc tế đều điều chỉnh lại dự báo kinh tế Trung Quốc theo hướng bi quan hơn. Cụ thể là trong năm nay thì đà tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc sẽ giảm và có thể tới mức thấp nhất kể từ 13 năm qua.

Năm 2012 tăng trưởng của Trung Quốc đã là 7,8%, dưới mức 8% cần thiết cho nước này. Năm nay Bắc Kinh đưa ra chỉ tiêu là 7,5%, nhưng có lẽ, lần đầu tiên Trung Quốc sẽ không đạt được mục tiêu đó. Tăng trưởng kinh tế Trung Quốc trong quý Một 2013 vừa qua, tính theo mực độ thường niên, đã xuống 7,7%, thấp hơn quý Tư 2012 là 7,9%. Theo chuyên gia kinh tế của Nomura, tăng trưởng kinh tế quý Hai này còn sẽ xuống thấp hơn nữa – chỉ là 7,5% - và tiếp tục giảm, còn 7,3 % trong nửa cuối năm 2013.

Chỉ số PMI tuột giảm, theo kinh tế gia ngân hàng HSBC, phản ánh hai tình trạng: Nhu cầu nội địa sa sút trong lúc xuất khẩu bị bối cảnh kinh tế xấu của thế giới tác động.

Trong hoàn cảnh u ám của kinh tế toàn cầu, với ba đầu máy là Hoa Kỳ, Âu Châu và cả Nhật Bản còn đình trệ thì Trung Quốc có vị trí đặc biệt: Với sản lượng kinh tế đứng hạng nhì thế giới, sau Mỹ và trước Nhật, thế hệ lãnh đạo mới tại Trung Quốc còn chủ trương gia tăng khả năng tiêu thụ nội địa để quân bình lại cơ cấu kinh tế quá lệch lạc của họ. Bây giờ, nếu kinh tế Trung Quốc lại co cụm như vậy thì thế giới sẽ ra sao? Chính là cách suy luận ấy mới khiến các thị trường đều bị trồi sụt nặng nề.

Trong Tạp chí Kinh tế hôm nay, RFI sẽ tìm hiểu tình hình qua phần trao đổi sau đây cùng chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa tại Hoa Kỳ...

RFI: Xin thân chào anh Nghĩa. Thưa anh, sau nhiều dự đoán tương đối lạc quan về triển vọng kinh tế năm nay của Trung Quốc, cuộc khảo sát vừa do Hong Kong Shanghai Bank của Anh thực hiện với công ty tư vấn Markit Group công bố lại như gáo nước xối vào các thị trường tài chính thế giới khi họ nói đến chỉ số PMI của Trung Quốc đã sụt dưới cái ngưỡng 50 điểm. Thưa anh, chỉ số ấy là gì mà làm các thị trường cổ phiếu rơi rớt liên tục và khiến người ta dự báo tình trạng co cụm kinh tế sắp tới của Trung Quốc?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết là về chỉ số PMI, nói theo Pháp ngữ là "Indice des Directeurs d'Achat" hay "Chỉ số Mua hàng Chế biến" là loại dữ kiện kinh tế có tính chất tiên báo hơn là hậu kiểm. Thế giới có hai cơ quan Mỹ và Anh vẫn định kỳ khảo sát giới quản trị doanh nghiệp chế biến của một nước xem họ đặt hàng những gì, dự tính kinh doanh và việc làm ra sao, để đo lường triển vọng sản xuất sắp tới. Theo quy ước chung thì trên bảng bách phân nếu cao hơn 50, chỉ số PMI dự báo tình hình khả quan. Dưới 50 thì đấy là chỉ dấu sa sút của lĩnh vực chế biến. Nôm na là chỉ số này đo lường mức độ tin tưởng của giới sản xuất, và khi tổ hợp ngân hàng Anh đưa ra kết quả khảo sát sơ khởi thì họ thấy mức tin tưởng của doanh nghiệp Trung Quốc giảm đều từ ba tháng nay và vừa sụt dưới con số 50. Vì vậy, chỉ dấu tiên báo quốc tế này làm các chuyên gia phải điều chỉnh lại dự báo lạc quan của họ về kinh tế Trung Quốc.

RFI: Trước Đại hội 18 của đảng Cộng sản Trung Hoa vào Tháng 11 năm ngoái, rồi sau đó, khi thế hệ lãnh đạo mới được đưa lên cầm quyền, thì Trung Quốc đã nói đến yêu cầu chuyển hướng kinh tế. Thay vì dựa vào hai đầu máy tăng trưởng là xuất cảng và đầu tư qua tăng chi ngân sách và tín dụng thì họ sẽ phải nâng khả năng tiêu thụ của thị trường nội địa. Cũng vì chiến lược mới đó, các nước mong là nếu sức tiêu thụ của Trung Quốc gia tăng thì yêu cầu về nhập cảng cho một thị trường hơn một tỷ dân có thể kéo kinh tế thế giới ra khỏi trình trạng đình đọng hiện tại. Bây giờ hình như sự thể lại không được như vậy. Thưa anh, phải chăng vì việc khuyến khích tiêu thụ chưa đạt kết quả và dân chúng tại Trung Quốc lại còn giảm mức tiêu xài?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng sự thể nó phức tạp và khó khăn hơn một nghị quyết dù sao vẫn là duy ý chí của một hội nghị Ban chấp hành Trung ương. Lãnh đạo Trung Quốc muốn nâng khả năng tiêu thụ của người dân và tiến tới sự hình thành của một giai tầng trung lưu trong khi đưa ra nhiều chương trình phúc lợi cho dân nghèo ở thôn quê và các tỉnh lạc hậu bị khóa trong lục địa. Đấy là viễn ảnh lâu dài để khỏi dựa vào xuất cảng và đầu tư và tùy ở hai việc.

- Thứ nhất là tăng mức tiêu thụ của thành phần khá giả nhất, là mấy trăm triệu người sống ở các tỉnh duyên hải, xưa nay kiếm ra tiền nhờ luồng trao đổi với các thị trường quốc tế. Thứ hai là tăng sức sản xuất các mặt hàng chế biến từ các tỉnh nằm bên trong, xưa nay chỉ giữ vai phù trợ là làm gia công cho các tỉnh duyên hải với mức lời rất thấp. Ở giữa sự tính toán này lại có từ 250 đếh 300 triệu nhân công được gọi là "dân công" từ thôn quê và các tỉnh nghèo bên trong túa ra vùng duyên hải kiếm việc mà không có mạng lưới an sinh tối thiểu vì không có hộ khẩu.

- Bây giờ phải hồi hương lực lượng lao động lương thấp và tay nghề kém này vào trong và chưa thể trông cậy vào sức tiêu thụ của họ. Ở vùng duyên hải thì thành phần khá giả đã biết đòi lương cao hơn và khó kiếm việc làm hơn khi xuất cảng sa sút, tức là họ cũng bị thất nghiệp hay khiếm dụng, dùng không hết khả năng. Sức tiêu thụ của họ chưa thể bù vào sự hao hụt xuất cảng vào các thị trường Âu-Mỹ và đà tăng trưởng sau cùng vẫn lệ thuộc vào đầu tư của nhà nước.

RFI: Thưa anh, trước khi có tin kém vui về chỉ số PMI, hôm 13, Thủ tướng Lý Khắc Cường của Bắc Kinh tuyên bố rằng nguồn thu về thuế khóa đang chậm lại và đừng nên trông đợi một gói kích cầu hay đầu tư của chính phủ mà phải vận dụng quy luật của thị trường. Như vậy, có phải là lãnh đạo Bắc Kinh đã thấy ra sự sa sút kinh tế nhưng quyết định là không gia tăng công chi hay bơm tín dụng ngân hàng để kích thích kinh tế?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng họ học được kinh nghiệm của gói kích cầu lần trước, vào cuối năm 2008, khi tăng chi một ngân khoản tương đương với gần 687 tỷ đô la, rồi bơm ra một lượng tín dụng đến hơn hai ngàn tỷ đô la, tức là rất lớn. Lần đó, kinh tế được kích thích một cách giả tạo và Trung Quốc đạt mức tăng trưởng cao khi cả thế giới bị Tổng suy trầm 2008-2009. Nhưng hậu quả là lượng tiền trút vào kinh tế đã thổi lên bong bóng đầu cơ và hiện tượng sản xuất thừa với số tồn kho ế ẩm, dù được coi là sản lượng thì chỉ là sự lãng phí.

- Lần này, ông Lý mới cảnh báo các doanh nghiệp, ngân hàng và nhất là các tỉnh rằng không nên trông đợi vào một gói kích cầu như trước. Lý do thứ nhất là ngân sách bị bội chi, thuế vào chậm lại, thứ hai là hệ thống ngân hàng và các tỉnh, kể cả công ty đầu tư của chính quyền địa phương đã có gánh nợ quá lớn, bên trong là những khoản nợ bị ung thối, mà xấu đến cỡ nào và sẽ mất bao nhiêu thì chưa ai biết được.

- Nhưng dù trung ương nói vậy, thực tế thì các ngân hàng vẫn bơm thêm tín dụng, trong bốn tháng đầu năm thì lượng tín dụng đã tăng 13% so với cùng kỳ năm ngoái, lên tới 580 tỷ đô la, nên có thể lại thổi lên bong bóng địa ốc, nâng số tồn kho ế ẩm về vật liệu sản xuất và nhất là gây ra lạm phát. Đấy cũng là một nguyên nhân khiến lãnh đạo Bắc Kinh có thể đành chấp nhận một đà tăng trưởng chậm hơn chứ không dám đẩy mạnh đầu tư và bơm thêm tín dụng.

RFI: Các các chuyên gia quốc tế không mấy lạc quan về khả năng ứng phó của Bắc Kinh vì có trút tiền vào như lần trước thì cũng chỉ giải quyết được vấn đề trong ngắn hạn mà lại gây thêm khó khăn về dài hạn như anh vừa nói. Theo dõi tình hình kinh tế Trung Quốc từ lâu, anh thấy chân trời Trung Quốc sẽ ra sao ?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nhìn vào trường kỳ, tôi trộm nghĩ là sau 30 năm áp dụng, từ 1979 đến 2009, chiến lược phát triển của Trung Quốc đã đi hết sự vận hành. Nay lãnh đạo xứ này phải chuyển từ lượng qua phẩm, nếu không thì bị khủng hoảng kinh tế và động loạn xã hội. Việc cải sửa là dùng sức tiêu thụ làm lực đẩy của bộ máy sản xuất khi xứ này có sức tiêu thụ nội địa giảm sút đều và sụt đến mức thấp nhất trong các nền kinh tế lớn của thế giới, chỉ vỏn vẹn có 37%.

- Tức là từ chiến lược hướng ngoại nhắm vào xuất cảng họ phải xoay qua hướng nội là nhắm vào thị trường bên trong chứ không thể trông cậy vào sức đầu tư quá lớn và đầy lãng phí của khu vực nhà nước. Cụ thể là biến 800 triệu dân lao động thành người tiêu thụ. Lãnh đạo Bắc Kinh thấy vấn đề từ lâu mà không kịp chuyển vì nạn Tổng suy trầm năm năm trước nên lần đó lại tống ga đầu tư và bơm tín dụng như xưa, tức là uống sâm để đạp xe cho nhanh hầu cỗ xe khỏi đổ.

- Ngày nay họ trở về chỗ cũ với hoàn cảnh khó khăn hơn vì: thứ nhất dị biệt về địa dư hình thể giữa các tỉnh trong ngoài còn đào sâu hơn 30 năm trước; thứ hai là các tập đoàn kinh tế nhà nước đã trục lợi nhờ chiến lược cũ nên trở thành nhóm lợi ích cưỡng chống thay đổi; thứ ba là không dễ giúp các tỉnh bên trong trở thành hãng xưởng toàn cầu với kỹ nghệ chế biến và nhờ đó nâng được mức sống và khả năng tiêu thụ của người dân; và thứ tư, quan trọng nhất, không dễ làm thay đổi thói quen "tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn" của nhiều thế hệ đã sống trong bất trắc mà bảo họ hãy mạnh dạn tiêu thụ. Vì vậy tôi không mấy lạc quan về hy vọng của Trung Quốc.

RFI: Câu hỏi cuối thưa anh, nếu như vậy, lãnh đạo Bắc Kinh còn có thể làm những gì nữa để thoát ra tình trạng bế tắc này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng họ có thể đánh bung cái thế độc quyền và mạng lưới tư bản thân tộc hay "copinage" của hệ thống kinh tế nhà nước, là điều cần thiết mà lại không dễ. Kế đó, họ phải giải toả việc kiểm soát tư bản và ngoại hối để người dân và nhất là tiểu doanh nghiệp tư nhân có thêm lợi tức và cơ hội kinh doanh thay vì bị nhà nước trưng thu và bị tập đoàn kinh tế nhà nước ớm bóng mà không phát triển được. Thứ ba và cần nhất là cải sửa hay bãi bỏ chế độ hộ khẩu để tái lập công bằng và nâng đỡ gần 40% lực lượng lao động là thành phần "dân công", nếu không thì khó phát triển nông thôn và các tỉnh bên trong, cũng như rất khó nâng cao lợi tức của dân chúng. Nhưng dù có được thảo luận, loại biện pháp cần thiết ấy vẫn bị coi là rủi ro vì có thể đe dọa quyền lực đảng. Cho nên, Tổng lý Quốc vụ viện là Thủ tướng Lý Khắc Cường có nói gì về cải cách kinh tế, người ta vẫn thấy Tổng bí thư Tập Cận Bình nêu ra nhiều chủ trương thủ cựu và đi ngược yêu cầu cải cách. Kết cuộc thì đà tăng trưởng kinh tế Trung Quốc ở dưới cái mức sinh tử 8% và mấp mé 7% sẽ là tất yếu trong những năm tới. Nhưng ngoài ra sẽ còn có nhiều nguy cơ động loạn xã hội và bất ổn chính trị mà người ta cần theo dõi.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.