Hôm nay,  

Người Nhạc Sĩ Cello Của Thành Sarajevo

3/7/201300:00:00(View: 7531)
(Phóng dịch theo “The Cellist of Sarajevo” by Paul Sullivan.)

Hai năm một lần, những nhà chơi đàn Cello nổi tiếng trên thế giới và những người thích thứ nhạc khí này trong đó có những nhà sưu tập những kiểu đàn Cello cổ, những nhà nghiên cứu lịch sử đàn Cello… họp nhau tại một Đại hội Quốc tế về đàn Cello (International Cello Festival) tại Manchester, Anh quốc. Đại hội thường kéo dài một tuần lễ, chương trình gồm các buổi trao đổi từng nhóm chuyên môn, những lớp dạy đàn, hội thảo, biểu diễn độc tấu. Buổi tối, tất cả thành viên họp liên hoan nghe hòa nhạc, ăn uống và vui chơi.

Đại hội năm 1994 có 600 người tham dự. Tôi tham dự như một nhạc sĩ chơi dương cầm. Chiều liên hoan hôm nay tổ chức tại Trung tâm Âm nhạc Hoàng gia Northern College và chương trình dành cho một nhạc sĩ độc tấu Cello. Trên một sân khấu rộng thênh thang chỉ thấy kê một chiếc ghế. Không có bộ đàn dương cầm, không có khung để các bản nhạc, không có bệ đứng dành cho nhạc trưởng. Đây là khung cảnh trình diễn âm nhạc ở mức độ tinh túy nhất của nó. Sự tò mò của khán thính giả làm cho không khí trở nên căng thẳng.

Mọi người im lặng chờ đợi. Họ biết đêm nay nhà nhạc sĩ chơi đàn Cello nổi tiếng thế giới Yo-Yo Ma sẽ độc tấu bản nhạc “The Cellist of Sarajevo”, một bản nhạc có một lịch sử mủi lòng.

Câu chuyện là, đầu tháng Tư 1992, quân đội Nam Tư do người Serbia cầm đầu tấn công thành phố Sarajevo thuộc bang Bosnia vốn là một phần của Nam Tư vừa tuyên bố độc lập. Thành phố Sarajevo chìm trong khói lửa trong khi dân chúng Sarajevo vẫn bươn chãi để sống. Hôm 27/5 tại một góc phố Sarajevo, vào lúc 4 giờ chiều một trái đạn súng cối của quân Serbia đã rơi vào hàng người đang làm đuôi mua bánh mì tại một lò bánh mì còn mở cửa. Máu, đầu người, thân xác, tay, chân, áo quần rách nát văng tung tóe, gạch đá đổ ngổn ngang. Hai mươi hai (22) người chết.

Nhạc sĩ Vedran Smailovic 35 tuổi sống trong một căn hộ gần đó. Trước khi chiến tranh bùng nổ, Smailovic chơi đàn Cello cho đoàn nhạc kịch Opera Sarajevo. Ông hy vọng trở lại nghề cũ sau khi hết chiến tranh. Chứng kiến cảnh chết chóc nhạc sĩ Smailovic có một ý nghĩ táo bạo: Dùng âm nhạc mang thông điệp hòa bình và bác ái đến tận nơi đang diễn ra điêu tàn và chết chóc.

Trong 22 ngày liên tiếp, mỗi ngày dành cho một người nằm xuống, cứ đúng 4 giờ chiều, Vedran Smailovic ăn mặc chỉnh tề như sắp lên sân khấu, một tay ôm đàn Cello, một tay cầm chiếc ghế nhựa, ông mở cửa nhà thong thả bước đến đặt chiếc ghế bên cạnh cái lỗ đạn súng cối đào hôm 27/5 đang còn ngổn ngang gạch đá và máu bất chấp bom đạn đang nổ quanh mình. Ông ngồi xuống trên chiếc ghế và thản nhiên đánh bản đàn Adagio in G Minor của nhạc sĩ Albinoni (1), một bản đàn chiêu hồn tử sĩ làm tê tái tâm can ám ảnh lòng người nhất trong kho nhạc cổ điển.

Tiếng nhạc của ông văng vẳng trên con đường không người qua lại, trên những chiếc sườn xe cháy dở vọng qua các vách tường nhà loang lỗ vang dội đến tai những người dân khốn khổ đang tránh đạn trong hầm nhà khi hai bên đang giao tranh. Gạch đá bay tứ tung chung quanh nhạc sĩ Smailovic. Ông vẫn ngồi yên đánh đàn tin rằng tiếng nhạc từ cây đàn của ông đang nói với những kẻ không may rằng nhân tính vẫn còn đây, bất chấp sự chết mang đến cho họ thông điệp của tình thương và hứa hẹn rằng văn minh nhân lại vẫn còn và hòa bình sẽ trở lại. Điều kỳ lạ là giữa bom đạn ông không hề bị thương tích.


Tin truyền đi. Thế giới xúc động. Nhạc sĩ người Anh, ông David Wilde cảm tâm hồn nhạc sĩ Smailovic đã viết bản nhạc “Người chơi đàn Cello ở thành Sarajevo” (The Cellist of Sarajevo) để gởi gắm tâm sự của ông.

Tối hôm nay nhạc sĩ Yo-Yo Ma sẽ độc tấu Cello bản nhạc “Người chơi đàn Cello ở thành Sarajevo” (2)

Nhạc sĩ Ma bước lên sân khấu, nghiêng mình chào khán giả và ngồi xuống trên chiếc ghế. Ông kéo vài nốt nhạc. Âm thanh vang tỏa trong hội trường im phăng phắc làm cho không khí hội trường trở nên âm u, trống trải một cách đầy ma quái. Chậm rãi, chậm rãi… tiếng đàn trở nên tha thiết, khổ sở, ai oán làm cho cử toạ dường như ngừng thở lắng nghe. Rồi tiếng đàn dịu xuống … lóc cóc lóc cóc … như tiếng một chiếc xe thổ mộ đang chạy qua một bãi tha ma, rồi … im bặt.

Tiếng đàn ngưng. Yo-Yo Ma hơi nghiêng mình trên chiếc đàn, phím đàn còn gác trên dây. Hội trường im phăng phắc như chưa hoàn hồn sau khi chứng kiến một cuộc tàn sát.

Ma bỗng ngẩng đầu, đưa cánh tay ra như mời ai đó trong đám cử tọa bước lên sân khấu. Một dòng điện truyền qua cơ thể của 600 con người khi cử tọa nhận ra người được mời chính là nhạc sĩ Vedran Smailovic.

Nhạc sĩ Smailovic đứng dậy, theo đường giữa hai hàng ghế bước lên sân khấu trong khi nhạc sĩ Ma bước xuống. Hai nhạc sĩ, không một lời, ôm chầm lấy nhau khóc sướt mướt giữa tiếng vỗ tay, hoan hô, la ó tán thưởng của cử tọa. Yo-Yo Ma trong bộ đồ nhạc sĩ biễu diễn tươm tất, trong khi Smailovic bình dị trong chiếc áo da loại dùng để cỡi xe hai bánh đi đường xa. Tóc ông dài, râu rậm, khuôn mặt khắc khổ già trước tuổi. Nước mắt tràn mi, ông không dấu được nổi đau thương chưa xóa nhòa mới hai năm trước, và giờ phút đó còn tàn phá quê hương ông .

Cử tọa cảm thấy chơi vơi như bị lột trần tận xương tủy khi đối diện với người nhạc sĩ từng bất chấp bom đạn, chết chóc đổ nát và hận thù.

Trở về Maine. Tuần lễ sau, vào một buổi chiều tôi tham dự một buổi dạo đàn dương cầm tại một cơ sở dành cho người già và bệnh tật sống những ngày cuối cùng của đời mình do con cái gởi gắm (3). Tôi không khỏi không nhớ lại cái không khí xúc động tôi đã chứng kiến tại buổi độc tấu Cello tại Manchester. Ở hai cấp độ khác nhau về mặt hình thức, nhưng thông điệp về “tình thương” thật giống nhau.

Người nhạc sĩ thành Sarajevo đã bất chấp chết chóc, đối diện với sự vô vọng dùng âm nhạc chuyên chở hy vọng và lòng bác ái đến với nhân sinh. Thì ở đây, những tiếng hát đã lạc giọng của các ông bà cụ già hòa với tiếng đàn dương cầm của tôi cũng đang thách thức cái giới hạn của sự sống.

Ở đây không có bom đạn, chỉ có sự bất an của cơ thể, mắt mờ, tai lảng và sự cô đơn, hòa lẫn với vinh nhục, vui buồn của cuộc đời để nhớ lại. Nhưng các cụ không chùn lòng vẫn vỗ tay và ca hát với tiếng đàn.

Người nhạc sĩ viết nhạc hay người thưởng thức nhạc đều biết một điều âm nhạc là của báu trời ban cho con người. Âm nhạc mang đến cho chúng ta sự an ủi, cảm hứng để chống chỏi với thiên nhiên khi cần đến … vào những lúc chúng ta tưởng không cần đến nhất.

Trần Bình Nam

Phóng dịch: “The Cellist of Sarajevo” của Paul Sullivan
Readers Digest- April 2013
March 6, 2013
[email protected]
www.tranbinhnam.com

(1) http://www.youtube.com/watch?v=XMbvcp480Y4
(2) http://www.youtube.com/watch?v=HvsNU4eEt74
(3) Nursing home.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.