Hôm nay,  

2012 - Kinh Tế Châu Á Ảm Đạm

11/01/201200:00:00(Xem: 9978)

2012 - Kinh Tế Châu Á Ảm Đạm

Thanh Hà & Nguyễn Xuân Nghĩa - RFI

Á Châu Trước Một Năm Bất Trắc...

Khó khăn kinh tế toàn cầu đe dọa đến các nước châu Á. Kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại, xuất khẩu của nhiều nước Á châu giảm sút vì khủng hoảng châu Âu và khó khăn kinh tế Mỹ. Đó là những thách thức chờ đợi kinh tế Châu Á trong năm 2012.

Trong thông báo đề ngày 02/01/2012 cơ quan thẩm định tài chính Mỹ, Moody’s không mấy lạc quan về viễn ảnh tăng trưởng của châu Á. Trung Quốc, Ấn Độ hay Indonesia vốn được coi là những nền kinh tế năng động nhất sẽ không phải là những ngoại lệ: tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc dự trù chỉ còn 8%. Một số nhà phân tích còn đi xa hơn khi cho rằng ề giai đoạn tăng trưởng thần kỳ của Trung Quốc đã thuộc về quá khứ.Ừ

Ông khổng lồ kinh tế thứ ba của châu Á là Ấn Độ, theo nhận xét của Moody’s cũng đang bước vào một vùng ề gió xoáy Ừ. Riêng Nhật Bản, sau một năm điêu đứng vì thảm họa sóng thần và tai nạn hạt nhân Fukushima, trong năm 2012 thực sự bắt tay vào công trình tái thiết cho nên tổng sản phẩm nội địa của Nhật dự trù tăng 2,1%.

Trước Mood’y, một cơ quan thẩm định tài chính uy tín khác là Standard & Poor's cũng đã nêu lên quan điểm tương tự trong báo cáo mang tên Asia Pacific Markets Outlook 2011: ềTỷ lệ tăng trưởng tại khu vực châu Á Thái Bình Dương trong năm 2012 sẽ chậm lại do xuất khẩu đi xuống, do bất ổn trên các thị trường tài chính và do đe dọa suy thoái tại châu Âu và Hoa KỳỪ.

Standard & Poor's đặc biệt quan ngại đối với các nước lấy xuất khẩu làm chủ đạo như Indonesia, Malaysia, Thái Lan Philippines và Việt Nam. Tuy nhiên báo cáo của Standard & Poor's tin tưởng vào đầu tư và tiêu thụ nội địa của Philippines cũng như Malaysia phần nào giúp hai quốc gia Đông Nam Á này chống cự với đà suy thoái chung của toàn cỗ xe kinh tế thế giới.

Tuy nhiên toàn cảnh kinh tế châu Á không đến nỗi quá đen tối nhờ lạm phát được khắc phục tại các nước Indonesia, Malaysia và kể cả Philippines. Lạm phát tại Philippines ở vào khoảng từ 4,2 đến 4,7% trong năm. Thấp hơn so với khoảng 5,2 % tại Indonesia và thấp hơn hẳn so với chỉ giá tiêu thụ dao động từ 9,9 đến 10,4% của Việt Nam. Riêng Malaysia và Thái Lan thành công trong việc duy trì chỉ giá tiêu thụ ở mức trên dưới 3%.

Liên quan đến chỉ số nợ nước ngoài, Standard & Poor's đánh giá tích cực 16 trên 22 quốc gia châu Á Thái Bình Dương. Riêng Việt Nam và Nhật Bản thì bị điểm xấu.

Nhìn từ Hoa Kỳ, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa cũng cho rằng các nước châu Á đang bước vào một năm mới với nhiều lo âu. Châu lục này từng đem lại nhiều hy vọng kể từ khi kinh tế Mỹ và châu Âu bị đình trệ từ sau khủng hoảng tài chính 2008, còn Nhật Bản thì lúng túng với hậu quả thiên tai tsunami tháng 3/2011. Theo ông Nguyễn Xuân Nghĩa, giờ đây Châu Á đang chuẩn bị đối phó với nhiều bất trắc:

Nguyễn Xuân Nghĩa : Nhìn từ năm qua thì Châu Á chưa thể tách rời khỏi khối công nghiệp hóa là ba đầu máy Âu-Mỹ-Nhật và tôi e rằng trong năm 2012, các nước châu Á đều phải hạ thấp kỳ vọng và tự chuẩn bị cho một đà tăng trưởng còn chậm hơn. Từ mùa thu 2011 rủi ro ấy đã thể hiện ngày càng rõ ràng hơn. Ở đây, ta nói về Á châu ngoài Nhật và có cả Trung Quốc lẫn Ấn Độ cùng các nước tân hưng Đông Bắc Á và các nước đang phát triển tại Đông Nam Á.

Trước hết, các nền kinh tế Á châu đều thấy chung một hiện tượng nội tại của họ. Đó là số cầu của thị trường nội địa không tăng mà còn giảm từ giữa năm ngoái trở đi nên không tạo ra lực đẩy khả dĩ bù đắp cho sự suy sụp của các thị trường công nghiệp hóa. Ngoại lệ là kinh tế Indonesia nhưng dù sao vẫn chưa đáng kể. Mà chiều hướng suy giảm đó còn tiếp tục trong quý bốn và có thể kéo dài qua năm nay.

Thứ hai, song song với sự giảm sút của thị trường nội địa, sức bật cố hữu của Á châu là xuất khẩu cũng đình trệ từ đầu quý hai và còn sa sút dần trong những tháng cuối năm. Nều nhìn vào một chỉ số tiên báo về sinh hoạt sản xuất trong những tháng tới là đơn đặt hàng chế biến, mà cả Anh và Pháp ngữ đều gọi là Purchasing Managers Index hay PMI, thì cả nhóm Đông Á đều thiếu khởi sắc, kể cả Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore hay Hồng Kông.

RFI : Trong lúc tình hình tại châu Âu và Hoa Kỳ vẫn còn đen tối

Nguyễn Xuân Nghĩa : Chẳng những không sáng sủa mà còn có phần đen tối hơn cái năm 2011 u ám vừa kết thúc. Năm nay, các nước Á châu sẽ thấy là quả đất hình tròn và các quốc gia đều liên lập với nhau về kinh tế chứ châu Á chưa thể tìm ra một định mệnh kinh tế riêng.

Trước hết, tình hình Nhật chưa khả quan. Kinh tế Âu châu thì may lắm sẽ suy trầm, gọi là récession, mà có khi còn bị nặng hơn nữa, đó là nạn suy thoái, tức là dépression. Kinh tế Hoa Kỳ thì chưa thể hồi phục mà còn có thể bị rơi vào suy trầm nữa nếu Âu châu bị suy thoái. Tôi xin lỗi cứ phải phân biệt hai trạng thái, đó là suy trầm, nghĩa là chìm xuống, là còn nhẹ hơn suy thoái là khi kinh tế không tiến dù có chậm hơn mà còn lùi. Nếu lùi hơn nữa thì gặp khủng hoảng, là cấp nguy ngập thứ ba!

Một cách vắn tắt cho dễ nhớ thì nhiều trung tâm nghiên cứu trên thế giới, kể cả Quỹ Tiền tệ Quốc tế vào tuần qua, đã dự báo là đà tăng trưởng của kinh tế toàn cầu trong năm tới có thể chỉ là bình quân 3,5%. Nếu sụt đến 2,5% thì chúng ta lại có hiện tượng gọi là "suy trầm toàn cầu", theo định nghĩa của Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Trong tốc độ trung bình đó, Á châu có thể hy vọng duy trì được một đà tăng trưởng từ 6,5 đến 6,9% là nhiều. Nói ra thì có vẻ cao nhưng vẫn thua tiềm năng bình thường của châu Á, mà nếu không khéo thì có thể sụt tới mức thấp hơn năm 2009 là chỉ có chưa đầy 6%

RFI : Người ta giải thích thế nào về hiệu ứng bất lợi xuất phát từ kinh tế Âu Châu và Hoa Kỳ?

Nguyễn Xuân Nghĩa : Giữa năm ngoái, khối kinh tế Âu Mỹ đã từ hoàn cảnh đình đọng, yết ớt và bấp bênh trôi vào trạng thái bất trắc là đánh sụt niềm tin của thị trường về khả năng quản lý và ứng phó với khủng hoảng ở cả hai bờ Đại Tây Dương. Hậu quả là năm nay, khối kinh tế gọi là tiên tiến này phải cùng lúc đánh vật với những đòi hỏi mâu thuẫn. Tại Âu Châu, đó là nguy cơ vỡ nợ vì gánh công trái của nhiều nước, là yêu cầu trả nợ gây ách tắc tín dụng cho các ngân hàng, là sự mong manh của đồng Euro và khả năng dàn xếp rất khó của lãnh đạo chính trị. Tại Hoa Kỳ thì đó là cuộc tranh luận còn kéo dài giữa việc tiết giảm bội chi ngân sách hay tăng chi để kích thích kinh tế, và tăng thuế hay giảm thuế để kích cầu. Mà năm nay nước Mỹ lại có tranh cử lớn!

Trong bối cảnh quốc tế đó, các nền kinh tế Á Châu nào mà quá lệ thuộc vào thị trường bên ngoài đều điêu đứng. Đó là hoàn cảnh của Nam Hàn, Hong Kong, Đài Loan, Singapore, Thái Lan và cả Việt Nam. Các nền kinh tế của Ấn Độ, Indonesia hay Trung Quốc có thể ít bị hiệu ứng quốc tế hơn. Nhưng riêng Trung Quốc thì lại có mầm khủng hoảng nội tại của họ vì động loạn xã hội và khó duy trì được mức tăng trưởng cao hơn cái ngưỡng sinh tử là 8%. Mà y như Hoa Kỳ, năm nay Trung Quốc cũng chuẩn bị thay đổi lãnh đạo vào cuối năm nên cũng có gặp ách tắc và bị tê liệt về chính sách ứng phó.

RFI : Như anh vừa trình bày thì biến cố kinh tế nơi này có thể ảnh hưởng đến nơi khác. Nhưng anh có thể nào trình bày cho rõ hơn là chịu ảnh hưởng qua những ngả nào?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Ta nên nghĩ đến hai cơ phận chuyển lực như hai sợi dây "courroie". Thứ nhất là ngoại thương hay mậu dịch khi hai khối kinh tế mua bán với nhau. Thứ hai là mối quan hệ tài chính qua trao đổi tư bản.

Về ngoại thương thì việc cả Hoa Kỳ và Âu Châu, nhất là Âu Châu, sẽ phải giảm chi, gia tăng tiết kiệm và tiêu thụ ít hơn tất nhiên sẽ đánh sụt mức nhập khẩu, tức là số xuất khẩu của Á Châu. Khi số bán hàng giảm, các nước sẽ sản xuất ít hơn và trước hết ít mua hàng của một xứ Á Châu khác đem về chế biến rồi bán qua các thị trường Âu Mỹ. Một thí dụ mà doanh nghiệp Việt Nam và Trung Quốc hiểu ngay là khi Việt Nam bán ít giày dép và hàng may mặc cho Liên hiệp Âu châu hay Hoa Kỳ thì Việt Nam cũng ít mua nguyên vật liệu của Trung Quốc về ráp chế lại.

Về sợi dây chuyển lực trong lĩnh vực tài chính thì khi các ngân hàng Âu Châu phải tích cực trả nợ, việc tài trợ giao dịch ngoại thương tại Á châu cũng thành tốn kém hơn, lý do là Á châu cần tín dụng loại ngắn hạn cho nghiệp vụ xuất nhập khẩu. Thứ nữa, các ngân hàng đều cần huy động ký thác và nhu cầu ấy tất nhiên đẩy lãi suất huy động lên cao hơn và thực tế thì sẽ nâng phân lời tín dụng, và hiện tượng ấy có thể kéo dài nhiều năm....

Cho nên, may lắm thì Á châu hy vọng ra khỏi khó khăn vào năm 2013, nhưng vẫn chỉ là hy vọng thôi vì từ nay đến đó, ngoài thiên tai người ta còn sợ nhân hoạ, là sai lầm của con người về chính sách! Trong khi ấy, ta cũng không nên quên là nhiều nước Á châu đang bị hậu quả từ những sai lầm về chính sách trong các năm trước. Trường hợp Việt Nam là một điển hình !

RFI: Về trường hợp của Trung Quốc thì lo ngại chính mà các chuyên gia nêu lên là điều gì sẽ xảy tới với các nước châu Á nếu như cỗ máy kinh tế đồ sộ của ông khổng lồ châu Á này không được hạ cánh nhẹ nhàng ? Tức là Bắc Kinh không duy trì được tỷ lệ tăng trưởng trên dưới 8 % như mong đợi mà GDP của nền kinh tế thứ nhì trên thế giới đó chỉ tăng 5 % trong năm. Giả thuyết này đã được công ty phân tích về tài chinh IHS Global Insight đề cập tới.

Cuối cùng là núi nợ của các chính quyền địa phương Trung Quốc : theo các thống kê chính thức của Trung Quốc tính đến cuối 2010, tổng nợ công của các thành phố, tỉnh thành lên tới gần 11 000 tỷ nhân dân tệ, (1.300 tỷ euro) tương đương với 27 % tổng sản phẩm nội địa Trung Quốc.

Nhưng theo thẩm định của Moody’s thì trên thực tế núi nợ đó là trên dưới 15 000 tỷ nhân dân tệ và có từ 8 đến 10% khoản tiền đó coi như là nợ khó đòi. Qua đó đe dọa trực tiếp đến hệ thống ngân hàng Trung Quốc.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.