Hôm nay,  

Thư làm quen

06/12/201100:00:00(Xem: 8991)

Thư làm quen

xichhung

Gởi người em gái chưa quen

KBC…, ngày…tháng…năm 197…

Em mến,

Chắc em ngạc nhiên lắm khi nhận thư này. Thôi thì đầu thư anh xin dài dòng một chút rồi em sẽ nhớ ra nhá!

Cách nay nửa tháng, trưa hôm đó vào một ngày trời trong nắng đẹp hiếm hoi trên đỉnh sương mù Holloway, một chiếc trực thăng thả nhóm học sinh trường em đến thăm và ca hát giúp vui cho lính tráng của tiểu đoàn anh trên tiền đồn này. Em còn nhớ không, hôm đó lính tráng tụi anh đã nổi hứng nhào vô đóng góp chút ít, nhờ thế mà vui nhộn chi lạ.

Cứ nhớ lại tiếng cười giòn tan, ánh mắt sáng ngời, cùng nét mặt rạng rỡ trên những gương mặt phong sương sạm nắng đầy khắc khổ vì chiến trận của những người lính ấy cũng đủ biết rằng buổi văn nghệ dã chiến đó nó đượm tình hậu phương - tiền tuyến biết dường nào, nó thắm tình quân - dân biết dường nào.

Em à, người lính tác chiến xa nhà như tụi anh đây cũng cần có những lúc vui nhộn như thế để cái đầu bớt căng thẳng đi, để quên bớt đi những hiểm nguy vào sinh ra tử đã qua, để thấy rằng hậu phương vẫn luôn thương yêu đặt hết tin tưởng nơi người lính; có thế người lính mới vững niềm tin mới chắc tay súng hầu đem lại yên vui cho hậu phương, mang lại thanh bình cho đất nước. Mục đích cao cả của người lính chỉ có thế thôi đó em.

Nhớ lại, buổi sinh hoạt bên chiến hào ấy thật là hào hứng. Mở đầu, hai em học sinh nam nữ song ca bài Em Hậu Phương - Anh Tiền Tuyến nghe tình tứ làm sao:

Em hậu phương còn anh nơi tiền tuyến

chúng ta cách xa rồi nhưng tình đâu có chia phôi

Mình gọi tên nhau nhớ nhau trong mộng thôi

tha thiết yêu nhau mà vui

Lính tráng thấy “phê” quá, lim dim đôi mắt, nhịp tay lên báng súng mà thả hồn theo lời ca tiếng đàn. Hình như có một vài tên đang “vướng” mối tình hậu phương - tiền tuyến nào đó nên cái đầu cứ gật gù đong đưa theo lời ca. Thấy thương sao là thương. Rồi một em nữ sinh đơn ca bài Tâm Sự Của Em nghe…ướt át mà đậm đà quá:

Ai nói với anh xa anh nhiều rồi em quên nụ cười

Tàn đêm ra đứng nhìn trăng đếm sao thương về xa xôi

Không không trăm lần không ngàn lần không

Không không trăm lần không vạn lần không

Anh cứ vui tranh đấu cho quê hương hoà bình

xây đắp cho tương lai đời mình

đó là ước nguyện của em và của anh

Chú lính trẻ mang máy của anh đáp lễ bài Ai Nói Với Em, qua giọng hát khoan thai trầm ấm:

Ai nói với em lính không sầu nhớ

không có trái tim đắm say mộng mơ

Ai nói với em tình người lính trẻ

nồng nàn nhưng nhiều dâu bể

không như cung đàn lời thơ

Rồi một Hạ Sĩ tiểu đội trưởng với chất giọng kích động sôi nổi, nó…gào lên:

Một trăm em ơi chiều nay một trăm phần trăm

Một trăm em ơi chiều nay một trăm phần trăm

Người yêu anh ơi giờ đây lại cấm trại rồi

Nào đâu nào biết tâm tư người lính

Lòng anh nao nao mỗi khi ta hẹn nhau

với em tâm tình

À này…Em biết không, mấy ngày nay những lúc rảnh rổi anh đọc cuốn Đặc San Lá Thư Không Gởi giành riêng cho lính do trường em thực hiện. Say sưa đọc qua đọc lại, anh rất ngạc nhiên và nghĩ đây là một cuốn đặc san thật đặc biệt vì chưa có trường nào thực hiện với nội dung gồm toàn là văn - thơ - nhạc giành cho lính cả. Thay mặt đơn vị, anh chân thành gởi lời cám ơn trường em đã có tấm lòng thật thiết tha nồng hậu với lính.

Có một điều mà anh cứ tủm tỉm cười hoài là tấm hình của một cô nữ sinh in trên đầu bản nhạc Lá Thư Không Gửi thấy sao giống cô bạn học dưới anh ba lớp ngày xưa quá. Giống một tám một mười. Giống từ mái tóc, từ ánh mắt với cặp kính cận, giống tới sóng mũi, tới nụ cười. Nhớ kỹ lại, thì ra đó là tấm hình của em, và em đã hát thật hay bài ca này:

Đứng trước nhau ngại nói

đường xa không cùng lối viết thư thay lời

Muốn viết câu hỏi thăm

ai bao nỗi niềm vơi mà không quen người

Đây cũng là bài ruột của anh, nên anh tự tin bước vào hát tiếp:

Vẫn biết vui đời lính

ai không vương tâm tình

giấy trăng nét mực xanh

trăng lên xuyên qua mành

không gian giăng mây thành

vạn câu thương nhớ viết lên lời thư

Vậy là em và anh tình cờ bất ngờ trở thành…đôi song ca không hẹn mà thành. Hát hết bài, ông tiểu đoàn trưởng thích quá chạy đến ôm chặt lấy “đôi song ca” mà suýt soa khen ngợi: “Hay quá…Hai em ca diễn hay quá…Tuyệt quá…! Cám ơn hai em…!”. Lính tráng tụi nó vỗ tay rần rần, huýt sáo ỏm tỏi…Lúc đó, em thì sao không biết, chứ anh thì…chết trân tại chỗ, ngộp thở vài giây…

Cuối cùng, trong một hoạt cảnh sống động, các em cùng lính tráng tụi anh đồng ca bài Trên Đầu Súng Ta Đi thật hùng dũng để lên tinh thần cho những ngày lao vào binh lửa sắp tới:

Trên đầu súng ta đi tổ quốc đã vươn mình

Trên lưỡi lê căm hờn hờn căm như triều sóng

Ôi xôn xao chiêng trống hối thúc

đã giục giã khắp chốn thôn làng

Ôi lửa thiêng dậy bập bùng

tay đốt lửa tay vung kiếm

Buổi hát bên chiến hào này kéo dài chừng hai tiếng đồng hồ thôi, nhưng ai nấy cũng đều hả hê vui thích. Ông tiểu đoàn trưởng vỗ vỗ vai anh, nói: “Được lắm…Được lắm…Bận sau mần nữa nghen mạy!”.

À…Anh hỏi nhỏ chút nha:

- Cho anh làm quen với em được không? Em đừng ngại…Chỉ là làm quen thôi. Người lính tiền đồn này rất thèm nhận được những lá thư hậu phương từ em…Thèm lắm đó…! Và em nhớ đừng bao giờ hát đi hát lại câu này nhé:

Thư này em viết nhưng không bao giờ

không bao giờ em gửi cho người em…

Mong thư em lắm đó nha!

Người anh chưa quen,

“Song Ca”

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.