Hôm nay,  

Đối Tác Kinh Tế Xuyên Thái Bình Dương

10/11/201100:00:00(Xem: 8665)
Đối Tác Kinh Tế Xuyên Thái Bình Dương

Nguyễn Xuân Nghĩa & Vũ Hoàng RFA

...ai ai ở trong nước cũng biết đến sự bất toàn và tốn kém của doanh nghiệp nhà nước...

Vũ Hoàng: Hơn hai năm qua, chín quốc gia Thái bình dương đã có chín phiên họp để xây dựng một hệ thống đối tác chiến lược về kinh tế xuyên qua biển Thái bình. Kỳ họp sau cùng là cuối Tháng 10 vừa qua, tại thành phố Lima của Peru tại Nam Mỹ châu, với tiêu chí là đạt thỏa thuận cơ bản trước Thượng đỉnh của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Á châu Thái bình dương vào hai ngày 12-13 Tháng 11. Đây là nỗ lực ráo riết và to tát để lập ra một vòng cung chiến lược gọi là "Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương" Trans-Pacific Partnerhip nối liền các nước như Hoa Kỳ với Chile, Peru, New Zealand, và Singapore với Việt Nam. Chúng tôi có cuộc trao đổi với chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa, tư vấn của đài Á châu Tự do, về hồ sơ này....
Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Bên cạnh Thượng đỉnh APEC của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Á châu Thái bình dương sẽ họp cuối tuần này tại Hawaii dưới sự chủ tọa của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, người ta chú ý đến dự án thành hình một hệ thống đối tác chiến lược về kinh tế, gọi là "Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương". Thưa ông, hệ thống đối tác ấy là gì"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Đó là "Trans-Pacific Strategic Economic Partnership", viết tắt là TPP, một dự án hội nhập kinh tế gần như toàn diện giữa một số quốc gia trên vành cung Thái bình dương, từ Đông Á qua Mỹ châu. Việt Nam và Hoa Kỳ nằm trong số quốc gia này.
- Khởi đầu, đó là sáng kiến từ năm 2002 của ba nước Chile, New Zealand và Singapore, được xứ Brunei lập tức hưởng ứng. Sau nhiều năm thương thảo thì năm 2006 họ lập ra một khối mậu dịch với việc xoá bỏ 90% hàng rào quan thuế trong luồng giao dịch với nhau và giao hẹn là đến năm 2015 thì có chế độ thương mại không còn rào cản về trao đổi giữa các nước. Mục đích là qua buôn bán tự do sẽ phát triển kinh tế quốc dân cho cả khối. Khi ấy, bốn nước sáng lập này, gọi là nhóm P-4, cũng dự trù mở cửa đón nhận các quốc gia khác.
- Rồi đầu năm 2008, Hoa Kỳ ngỏ ý muốn tham dự và lập tức tiến hành thương thuyết. Cuối năm đó, bốn nước là Australia hay Úc, Việt Nam và Peru rồi Malaysia cũng xin tham dự và nhiều xứ khác đã gửi quan sát viên tìm hiểu với ý muốn sẽ nhập cuộc, đó là Canada, Nhật Bản, Đài Loan, Nam Hàn, Philippines.... Danh xưng "Đối tác Chiến lược về Kinh tế" xuất hiện từ đó.
Vũ Hoàng: Tức là Mỹ nhập cuộc về sau chứ không là quốc gia xướng xuất"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa vâng. Sau khi nhậm chức Tổng thống vào đầu năm 2009, và ngược với nỗi lo của các nước về xu hướng bảo hộ mậu dịch trong đảng Dân Chủ, ông Obama vẫn muốn đẩy mạnh việc hợp tác. Tại Thượng đỉnh của diễn đàn APEC năm ngoái ở bên Nhật, ông đề nghị nhiều bước đột phá để sẽ thúc đảy và mở rộng sáng kiến tại Thượng đỉnh năm nay. Cho đến nay, chín nước kể trên là Chile, New Zealand, Singapore, Brunei, Mỹ, Úc, Việt Nam, Peru và Malaysia đã có chín kỳ họp luân phiên về kỹ thuật của hồ sơ này tại nhiều nơi, kể cả tại Việt Nam vào Tháng Sáu vừa qua.
Vũ Hoàng: Thưa ông, với trọng lượng kinh tế và một thị trường nhập khẩu lớn nhất thế giới, khi gia nhập vào một vòng đàm phán đa phương như vậy, tất nhiên Hoa Kỳ đã có ảnh hưởng sâu xa và mở rộng hơn sáng kiến ban đầu. Có phải như vậy không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa rằng đúng như thế, vì sức nặng của mình, Hoa Kỳ tham dự vào chuyện gì thì chuyện đó trở thành chiến lược!
- Về chiều sâu, Hoa Kỳ đưa ra nhiều đề nghị và tiêu chuẩn tự do hoá luồng trao đổi, hai thí dụ nổi bật là mở rộng việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và hạn chế vai trò doanh nghiệp nhà nước, vốn là hiện tượng khá đặc thù của một số nền kinh tế như Việt Nam. Về chiều rộng, là phạm vi áp dụng trong khu vực Á châu Thái bình dương, Hoa Kỳ cũng kêu gọi nhiều nước khác tham gia, kể cả Nhật Bản và Nam Hàn là hai nền kinh tế lớn ở Đông Á. Về thể thức, qua vòng đàm phán kỹ thuật, các "thực thể liên hệ" như doanh nghiệp hay chính quyền địa phương được mời góp ý, quan sát, và kết quả được lần lượt thông báo ra ngoài để những ai có quyền lợi liên hệ được biết rõ về hậu quả hay sự lợi hại từ bản hiệp định sẽ ký kết sau này.
Vũ Hoàng: Chúng ta không quên rằng Hoa Kỳ buôn bán nhiều nhất với hai quốc gia láng giềng là Canada và Mexico, đều là những nước Thái bình dương. Nếu kết hợp thêm Nhật và Nam Hàn thì nhóm đối tác kinh tế chiến lược này sẽ có trọng lượng thực tế rất cao và mở ra nhiều cơ hội giao thương cho các nước.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa đúng như vậy, Hoa Kỳ đã sẵn có những hiệp định tự do mậu dịch với một số quốc gia, gần đây nhất là Nam Hàn, nên việc đàm phán rất có triển vọng thành hình. Tuy nhiên, người ta cũng chú ý đến một vài trường hợp khá đặc biệt.
- Trước hết là Canada, đối tác thương mại số một của Hoa Kỳ. Xứ này chỉ là quan sát viên và chưa tỏ ý sẽ gia nhập mà nếu gia nhập có thể gặp trở ngại từ New Zealand vì chính sách bảo hộ nông sản, chủ yếu là sản phẩm gốc sữa của Canada. Một số dư luận cho là Canada gạt ra ngoài và mất cơ hội giao thương có lợi và đang vận động chính phủ Canada phải tranh đấu để tham gia vành cung Xuyên Thái bình dương. Trường hợp kia là Nhật, một quan sát viên khác.
- Hồi Tháng Chín, Thủ tướng vừa nhậm chức là ông Yoshihiko Noda tỏ ý gia nhập và thực tế được Hoa Kỳ vận động từ năm ngoái để bước vào vòng cung này. Nhưng Nhật bị một mâu thuẫn trầm trọng là dù các doanh nghiệp, giới trẻ và khu vực sản xuất tiên tiến muốn mở rộng phạm vi giao thương với bên ngoài thì khu vực nông nghiệp, người già và cả thế lực kinh tế chính trị của họ vẫn đòi duy trì chế độ bảo hộ. Dù có muốn, và được Hoa Kỳ khuyến khích, Chính quyền Noda chưa chắc đã vượt qua rào cản bên trong, nhất là sau những tai họa về động đất và sóng thần vào Tháng Ba vừa qua. Ta nên chú ý đến sự chọn lựa đó của Nhật Bản.
- Vì vào hoàn cảnh đó, quốc gia láng giềng của Nhật là Nam Hàn lại có lợi thế là vừa hoàn tất Hiệp định Thương mại Song phương với Mỹ sau bốn năm bị ngâm tôm và phải tu chính. Trong khi Nhật Bản còn do dự thì Nam Hàn dễ đưa trọng lượng kinh tế của mình vào vùng thịnh vượng chung. Bên cạnh đó còn có Australia là nước Úc, và Peru cùng nhiều xứ khác như Phillipines....
Vũ Hoàng: Còn Trung Quốc thì sao, không thấy ông nhắc đến nền kinh tế quan trọng này" Trung Quốc có muốn hoặc có được mời vào cuộc hay không"

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Về bối cảnh, Trung Quốc được Hoa Kỳ mở cửa cho gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO từ 10 năm trước. Từ đó xứ này đạt tăng trưởng cao với ảnh hưởng mở rộng, thậm chí còn thách đố Hoa Kỳ trên nhiều lĩnh vực khác, chưa nói gì đến các nước khác.
- Tại Đông Á, Trung Quốc muốn chi phối Hiệp hội 10 Quốc gia Đông Nam Á ASEAN và xây dựng thế liên hết giữa các nước Á châu với nhau để nước Mỹ vì bận rộn với cuộc chiến chống khủng bố và hai chiến trường Afghanistan và Iraq nên phải đứng bên ngoài. Với quyết định gọi là "Trở lại Đông Á" và nỗ lực xây dựng hệ thống đối tác kinh tế có tầm chiến lược xuyên qua Thái bình dương, Hoa Kỳ có thể nhắm vào mục tiêu thương mại mà hiển nhiên cũng để bảo vệ quyền lợi và các đồng minh trong khu vực.
- Cho đến nay, Hoa Kỳ chính thức ngỏ ý là sau khi hoàn thành hiệp định Xuyên Thái bình dương thì sẽ mời Trung Quốc gia nhập. Thực tế thì Bắc Kinh đang theo dõi, tỏ ý chê bai tiêu chí của Thượng đỉnh APEC là có tham vọng quá cao, như Trợ lý Ngoại trưởng của họ vừa phát biểu hôm Chủ Nhật mùng sáu. Nhưng họ e là sẽ đứng ở vòng ngoài. Lý do là Hoa Kỳ đề xướng việc minh bạch hóa luồng giao dịch, đẩy mạnh trao đổi các sản phẩm và dịch vụ liên hệ đến môi trường sinh sống và nhất là đặt ra tiêu chuẩn hạn chế các doanh nghiệp nhà nước, là khu vực kinh tế chủ lực của Trung Quốc. Nhìn từ Bắc Kinh thì nếu vành cung đối tác chiến lược này thành hình với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nam Hàn, Australia và hàng loạt quốc gia Đông Nam Á, kể cả Việt Nam, thì Trung Quốc sẽ gặp bất lợi!
Vũ Hoàng: Ông vừa nhắc đến Việt Nam, quyền lợi xứ này nằm ở đâu trong hồ sơ quốc tế đó"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Việt Nam xin gia nhập hệ thống đối tác này đúng ba năm trước mà đến nay chưa công khai hóa chủ trương và quan điểm cụ thể trong các vòng đàm phán cho công chúng cùng biết về lẽ lợi hại. Đây là điều không nên vì sẽ khiến dân chúng thiếu chuẩn bị như đã xảy ra với việc gia nhập Tổ chức WTO.
- Thuần về quyền lợi thì tự do thương mại là có lợi cho kinh tế quốc dân nếu có chuẩn bị, cũng tương tự như ta xây dựng hạ tầng sản xuất về vật chất và pháp lý vậy. Về cụ thể, qua vòng đàm phán, Hoa Kỳ đề nghị nhiều điều khoản như minh bạch hoá thủ tục tiếp vận, bảo vệ môi sinh, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ quyền lợi lao động, yểm trợ các cơ sở tiểu doanh thương để tạo ra việc làm, v.v... là những điều sẽ có lợi lâu dài cho người Việt Nam. Cũng vậy, việc hạn chế đặc quyền và đặc lợi của các doanh nghiệp nhà nước trong luồng giao dịch không chỉ có lợi cho việc xuất khẩu của Mỹ mà cũng tạo ra một sân chơi bình đẳng và lành mạnh hơn cho tư doanh Việt Nam.
Vũ Hoàng: Nhưng hình như là chuyện doanh nghiệp nhà nước là đề tài nhạy cảm với lãnh đạo Việt Nam.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Đúng thế, và đấy là hòn đá thử vàng!
- Giới chức Mỹ biết rằng, y như Trung Quốc, Việt Nam chưa có nền kinh tế thị trường đích thực và muốn tạo điều kiện cho Việt Nam tiến tới hình thái đó với chủ trương giới hạn dần vai trò của doanh nghiệp nhà nước. Việt Nam có thoát được cửa ải này để như "cá vượt Vũ môn" trở thành một nền kinh tế và một xã hội văn minh hay không là do quyết định đó vì ai ai ở trong nước cũng biết đến sự bất toàn và tốn kém của doanh nghiệp nhà nước. Các quốc gia trong vòng đối tác chiến lược này cũng thấy như vậy. Cho nên, tiến trình đàm phán thương thảo sẽ phản ảnh một lúc hai vấn đề. Thứ nhất là quyết tâm cải cách của Việt Nam để trở thành một đối tác đáng tin. Thứ hai là xuyên qua kinh nghiệm với Việt Nam mà các nước sẽ xử trí với Trung Quốc, vốn dĩ cũng vẫn muốn bảo vệ khu vực kinh tế nhà nước để bảo vệ quyền lợi của một thiểu số trong khi vẫn kỳ thị và hạn chế khu vực sinh hoạt của tư doanh làm các tiểu doanh thương bị điêu đứng.
Vũ Hoàng: Nếu chúng tôi hiểu không lầm thì trong hồ sơ Đối tác Kinh tế Chiến lược Xuyên Thái bình dương, người ta có hai vế kinh tế và chiến lược. Về kinh tế thì có cái lẽ lợi hay hại cho quốc dân và về chiến lược thì có sự an toàn của quốc gia trước ảnh hưởng rất đáng lo về Trung Quốc. Trong hồ sơ này, có phải là Việt Nam đang đứng trước sự chọn lựa đó hay không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa ông, đúng là một câu hỏi cơ bản về kinh tế là quyết định này có lợi cho ai mà hại cho ai, và làm sao cân nhắc được nếu không công khai hóa"
- Về an ninh, Việt Nam chẳng cần phải khẳng định rằng mình đứng ở phe nào, là đồng minh của Trung Quốc hay đối tác của các nước Thái bình dương kia, vì về kinh tế chỉ cần thấy ra tương lai lâu dài của xứ sở và dân tộc nằm ở đâu. Khi gia nhập hệ thống đối tác kinh tế này, Việt Nam có sự chọn lựa và lý do chính đáng là vì quyền lợi của đa số người dân, cái giá phải trả là thiểu số ở trên sẽ mất một số đặc quyền và đặc lợi. Nếu suy ngẫm cho sâu thì ta có thể thấy ra mối liên hệ của thiểu số này với lập trường hữu nghị với Trung Quốc, là điều chưa chắc đã có lợi cho Việt Nam khi kinh tế Việt Nam đã quá lệ thuộc vào Trung Quốc.
Vũ Hoàng: Theo như ông lý luận thì Việt Nam nên khắc phục khó khăn để tham gia vào hệ thống đối tác này"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ là điều này có lợi vì sẽ tăng cường quan hệ kinh tế với thị trường xuất khẩu lớn nhất là Hoa Kỳ như Việt Nam đã có thể thấy trong 15 năm qua. Xuyên qua đó, Việt Nam còn có nhiều lợi thế song phương với siêu cường kinh tế này. Nhưng vấn đề không chỉ có vậy vì hệ thống đối tác TPP bao gồm nhiều nền kinh tế khác trong khu vực và là cơ hội cho Việt Nam hội nhập vào một khối kinh tế có tính chất chiến lược cho cả an ninh xứ sở.
- Vì vậy, tôi cho rằng Việt Nam nên công khai hóa tiến trình thương thảo cho quốc dân được biết về sự chọn lựa trước mặt để mọi người cùng tự chuẩn bị cho một cuộc chơi khác. Đấy cũng là tín hiệu cần thiết cho các thị trường và giới đầu tư quốc tế để họ quyết định về việc giao thương sau này với Việt Nam. Tín hiệu kinh tế đó không hàm ý chống Trung Quốc hoặc tranh luận về chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa nhưng vẫn gây lợi thế cho Việt Nam.
- Còn lại, ta nên theo dõi lập trường các nước tại Thượng đỉnh APEC vào tuần này ở Honolulu và vào hai ngày 18-19 tại Thượng đỉnh Đông Á ở Bali của Indonesia, để xem họ xử trí ra sao với hai cường quốc ở hai bờ Thái bình dương là Trung Quốc và Hoa Kỳ, lần đầu tiên tham dự một Thượng đỉnh của 18 nước Đông Á.
Vũ Hoàng: Thay mặt cho thính giả đài Á châu Tự do, xin cảm tạ ông Nguyễn Xuân Nghĩa về cuộc phỏng vấn này.

Ý kiến bạn đọc
10/11/201120:45:44
Khách
Với tuyên bố của Ông Sang rằng Việt Nam sẽ thúc đẩy thúc đẩy quan hệ chính trị, thương mại và đầu tư với các đối tác khu vực thông qua APEC, tôi hy vọng VN sẽ mạnh dạn tái cơ cấu nền kinh tế ì ạch có tên "kinh tế thị trường theo định hướng XHCN". Khi nào rũ bỏ được cơ cấu quản lý nền kinh tế dùng doanh nghiệp có vốn nhà nước làm chủ đạo, thì tiềm năng của nhân dân mới được giải phóng.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.